Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Bacillus cereus

Bacillus cereus or B. cereus is a type of bacteria that produces toxins. These toxins can cause two types of illness: one type characterized by diarrhea and the other, called emetic toxin, by nausea and vomiting.
These bacteria are present in foods and can multiply quickly at room temperature.
SourcesA variety of foods, particularly rice and leftovers, as well as sauces, soups, and other prepared foods that have sat out too long at room temperature.
Incubation Period
  • Diarrheal: 6-15 hours
  • Emetic (vomiting): 30 minutes to 6 hours
Symptoms
  • Diarrheal: Watery diarrhea and abdominal cramps
  • Emetic (vomiting): Nausea and vomiting
Duration of Illness24 hours
What Do I Do?Drink plenty of fluids and get rest. If you cannot drink enough fluids to prevent dehydration, call your doctor.
How Can I Prevent Illness?
  • If food is to be stored longer than two hours, keep hot foods hot (over 140°F) and cold foods cold (40°F or under).
  • Store cooked food in a wide, shallow container and refrigerate as soon as possible.

Salmonella

Salmonella, the name of a group of bacteria, is one of the most common causes of food poisoning in the United States. Usually, symptoms last 4-7 days and most people get better without treatment. But, Salmonella can cause more serious illness in older adults, infants, and persons with chronic diseases. Salmonella is killed by cooking and pasteurization.

Sources
  • Food: Contaminated eggs, poultry, meat, unpasteurized milk or juice, cheese, contaminated raw fruits and vegetables (alfalfa sprouts, melons), spices, and nuts
  • Animals and their environment: Particularly reptiles (snakes, turtles, lizards), amphibians (frogs), birds (baby chicks) and pet food and treats.
Incubation Period12-72 hours
SymptomsDiarrhea, fever, abdominal cramps, vomiting
Duration of Illness4-7 days
What Do I Do?Drink plenty of fluids and get rest. If you cannot drink enough fluids to prevent dehydration or if your symptoms are severe, call your doctor. Antibiotics may be necessary if the infection spreads from the intestines to the blood stream.
How Can I Prevent It?
  • Avoid eating high-risk foods, including raw or lightly cooked eggs, undercooked ground beef or poultry, and unpasteurized milk
  • Keep food properly refrigerated before cooking.
  • Clean hands with soap and warm water before handling food. Clean surfaces before preparing food on them.
  • Separate cooked foods from ready-to-eat foods. Do not use utensils on cooked foods that were previously used on raw foods and do not place cooked foods on plates where raw foods once were unless it has been cleaned thoroughly.
  • Cook foods to a safe internal temperature. Use a meat thermometer to make sure foods are cooked to a safe temperature.
  • Chill foods promptly after serving and when transporting from one place to another.
  • Wash your hand after contact with animals, their food or treats, or their living environment.

Phương pháp kiểm tra tổng số vi sinh vật hiếu khí



1. Nguyên tc
- Phương pháp s dng đĩa cy vi sinh môi trường khan và gel m nước hòa tan. Mu kim tra pha loãng đã được thêm vào đĩa vi 01 t l là 1ml/đĩa. n miếng tri bng nha đt lên tm film, tri mu đu khp din tích 20 cm2. Cht làm đông làm đĩa được đông li, đĩa được và sau đó đếm khun lc.

2. Phm vi áp dng
- Xác đnh men và mc trong tt c các dòng sn phm Non Dairy Creamer.

3. Tài liu tham kho
- AOAC Official method 997.02 – Yeast and Mold counts in Foods – Dry rehyratable Film Methods

4. Dng c và thuc th
- Đĩa Petrifilm Yeast and mold
- Miếng tri bng nha – dùng đ tri mu đu khp din tích đĩa
- Pipets th tích hút 1 ml
- Dung dch đm Peptone (water) – Hp tit trùng 15 phút 1210C.

5. Chun b mu
- Chun b dung dch vô trùng vi t l 1:10 (11 g/ 99 ml dung dch đm pepton)
- Chun b thêm đ pha loãng theo yêu cu. Thông thường, pha loãng t l 1:10 hay 1: 100.

6. Phân tích
- Ly đĩa Petrifilm đ trên b mt phng, kéo tm film bên trên lên và cy truyn 1 ml mu huyn phù lên trên trung tâm đĩa.
- Cn thn cun nh tm film bên trên xung. Phân tán mu huyn phù khp vùng tăng trưởng bng cách n nh trung tâm miếng tri bng nha. Không xoay hay trượt miếng tri đĩa.
- Đ yên đĩa trong 1 phút cho gel đông li.
- đĩa 20 - 250C ± 10C trong 5 ngày.
- Trong t m, v trí đĩa đt nm ngang, hướng thng lên, không chng quá 20 đĩa.

7. Kết qu
- Đi vi Nm men:
  • Khun lc nh có rìa bên ngoài rõ ràng.
  • Màu sc khun lc t màu nâu vàng sang màu xanh dương
- Đi vi Nm mc:
  • Khun lc mc thường có màu xanh nhưng có th cho rng màu sc khun lc có nhiu sc t chng hn như: đen, vàng, xanh
  • Khun lc phát trin rng.
- Mt đ men và mc trong 1g mu:
A (CFU/g) = N*k

Trong đó:
  • A: S tế bào (đơn v) hình thành khun lc trong 1g mu.                                   
  • N: Tng s khun lc đếm được trên đĩa (hay trung bình s khun lc trên đĩa nếu thc hin 02 đĩa song song cùng 01 mu)
  • k:  H s pha loãng mu

Phương pháp kiểm tra Coliform và Escherichia Coli



1. Nguyên tắc
- Phương pháp sử dụng đĩa cấy vi sinh môi trường khan và gel ẩm nước hòa tan. Mẫu kiểm tra pha loãng đã được thêm vào đĩa với 01 tỉ lệ là 1ml/đĩa. Ấn miếng trải bằng nhựa đặt lên tấm film, trải mẫu đều khắp diện tích 20 cm2. Chất làm đông làm đĩa được đông lại, đĩa được ủ và sau đó đếm khuẩn lạc.

2. Phạm vi áp dụng
- Xác định Coliform và E.coli trong tất cả các dòng sản phẩm Non Dairy Creamer.

3. Tài liệu tham khảo
- AOAC Official method 991.14 –  Coliform and Escherichia coli Counts in Foods – Dry rehyratable Film Methods

4. Dụng cụ và thuốc thử
- Đĩa Petrifilm E.coli/Coliform count
- Miếng trải bằng nhựa – dùng để trải mẫu đều khắp diện tích đĩa
- Pipets thể tích hút 1 ml
- Dung dịch đệm Peptone. Hấp tiệt trùng ở 1210C trong 15 phút.

5. Chuẩn bị mẫu huyền phù

- Chuẩn bị dung dịch vô trùng với tỷ lệ 1:10 (10 g/ 90 ml dung dịch đệm pepton)
- Chuẩn bị thêm để pha loãng theo yêu cầu. Thông thường, pha loãng tỷ lệ 1:10 hay 1:100.

6. Phân tích
- Lấy đĩa Petrifilm để trên bề mặt phẳng, kéo tấm film bên trên lên và cấy truyền 1 ml mẫu huyền phù lên trên trung tâm đĩa.
- Cẩn thận cuộn nhẹ tấm film bên trên xuống. Phân tán mẫu huyền phù khắp vùng tăng trưởng bằng cách ấn nhẹ trung tâm miếng trải bằng nhựa.
- Để yên đĩa trong 1 phút cho gel đông lại.
  • Đối với Coliform: Nhiệt độ 350C ± 10C trong 24 ± 2 h  
  • Đối với E.coli: Nhiệt độ 350C ± 10C trong 48  ± 4 h
- Trong tủ ấm, vị trí đĩa đặt nằm ngang, hướng thẳng lên, không chồng quá 20 đĩa.

7. Kết quả

- Có thể sử dụng kính lúp có đèn chiếu sáng đếm khuẩn lạc dể dàng.
- Coliform: Khuẩn lạc màu đỏ kèm bọt khí, khuẩn lạc màu đỏ không kèm bọt khí không phải là Coliform.
- E.coli: Khuẩn lạc màu xanh kèm bọt khí, khuẩn lạc màu xanh không kèm bọt khí không phải là E.coli
- Đếm tất cả số khuẩn lạc có thể đếm được trong đĩa.
- Tổng Coliform và E.coli trong 1g mẫu:
A (CFU/g) = N*k
Trong đó:
  • A: Số tế bào (đơn vị) hình thành khuẩn lạc trong 1g.                                   
  • N: Tổng số khuẩn lạc đếm được trên đĩa (hay trung bình số khuẩn lạc trên đĩa nếu thực hiện 02 đĩa song song cùng 01 mẫu)
  • k:  Hệ số pha loãng mẫu

Quy trình sản xuất Bia



MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU

Bia là loại nước giải khát có từ lâu đời và được mọi người trên thế giới rất ưa chuộng. Bia được chế biến từ những nguồn nguyên liệu chính như malt đại mạch, hoa houblon, nước và một số nguyên liệu khác… Bia có vị đắng dễ chịu, hàm lượng cồn thấp và các chất hoà tan trong bia được con người hấp thu tốt, vì vậy bia có giá trị dinh dưỡng và khả năng sinh năng lượng cao. Nên trong 10 năm trở lại đây lượng bia sản xuất ngày càng tăng, đội ngũ cán bộ kĩ thuật và số người quan tâm đến công nghệ sản xuất bia càng nhiều.
Nhà máy bia Huế được thành lập ngày 20/10/1990 với quyết định số 905/QĐ/UB của ủy ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế. Nhà máy ra đời theo hình thức liên doanh có vốn góp từ các đơn vị kinh tế quốc doanh trong tỉnh và vốn vay ngân hàng với số vốn đầu tư ban đầu là 2.4 triệu USD và công suất 3 triệu lit/năm.
Nhà máy được xây dựng trên khu đất có diện tích 67000 m2, nằm ở mặt tiền đường Nguyễn Sinh Cung huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Phía Tây giáp sông Hương,cách cảng Thuận An khoảng 7 Km, cạnh quốc lộ 1A do đó rất thuận tiện trong việc giao thông và vận chuyển hàng hoá. Sau 10 tháng xây dựng, từ tháng 2/1990 đến 11/1990. Sản phẩm của nhà máy bia Huda ra đời vào cuối tháng 11/1990.
Bia Huda được sản suất theo quy trình công nghệ tiên tiến nhất của hãng DANBREWCONSULT-ĐAN MẠCH cung cấp thiết bị và kĩ thuật công nghệ. Sự ra đời của việc liên doanh giữa nhà máy bia Huế với hãng TUBORG INTERNATIONAL A/S (TIAS) và quỹ công nghiệp hoá dành cho các nước phát triển (IUF Đan Mạch) gọi là công ty bia Huế, từ đó giúp công ty giới thiệu loại bia có chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế.
Chất lượng cao và giá cả hợp lý với người tiêu dùng là chiến lược lâu dài của công ty Bia Huế, nhất là đối với sản phẩm bia HUDA đã đưa nhà máy phát triển vượt bậc. Công suất của nhà máy không ngừng tăng, với tốc độ tăng trưởng như sau:
Năm
1991
1992
1993
1995
1998
2007
2010
2011
Công suất
(triệu lít/năm)
3
6
12
30
50
100
178
230
Sản phẩm của công ty bia Huế được khách hàng chấp nhận và ưa chuộng trong và ngoài nước. Bia Huda chiếm vị trí hàng đầu tại các tỉnh miền trung như Huế, Quãng Trị,Quãng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và có mặt trên cả nước. Ngoài ra sản phẩm của công ty là loại bia đầu tiên xuất khẩu sang Mỹ. Từ đó đến nay, công ty liên tục xuất khẩu bia sang Mỹ, Canada, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Lào vơi nhãn hiệu sản phẩm HUE BEER tạo nên tiếng vang lớn trên thị trường thế giới, mở ra triển vọng mới, thúc đẩy sự phát triển mạnh hơn.

Chương 1: TỔNG QUAN NHÀ MÁY BIA HUẾ

Nhà máy bia Huế được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1990, với công suất ban đầu là 3 triệu lít/năm. Hai năm sau, năm 1992 công suất của nhà máy đã được nâng lên gấp đôi là 6 triệu lít/ năm.
Năm 1994, Công ty Bia Huế với sản phẩm: Hue beer là một trong những sản phẩm của Việt Nam đầu tiên tự tin đi vào thị trường Hoa Kỳ. Đến nay, các sản phẩm của Công ty Bia Huế là Hue beer và Huda beer đã có mặt trên nhiều châu lục: từ châu Á (chủ yếu ở các thị trường như Malaysia, Indonesia, Lào, Nhật Bản) sang châu Âu (Pháp, Bồ đào Nha, Anh), từ Australia sang Hoa Kỳ đến Canada...
Đến năm 1998, năng lực sản xuất của Công ty Bia Huế đã được nâng lên 50 triệu lít/năm, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong quá trình hình thành và phát triển của công ty. Là một trong mười đơn vị liên doanh làm ăn có hiệu quả nhất tại Việt Nam, với 100% nhân viên là người Việt, Công ty Bia Huế đã chứng tỏ được năng lực làm việc, khả năng điều hành và niềm tin của đối tác. Với sự phát triển không ngừng, Công ty Bia Huế dự kiến sẽ đưa nhà máy bia tới Khu công nghiệp Phú Bài có công suất 100 triệu lít /năm vào hoặt động vào cuối năm 2007.
Đến đầu năm 2008 Nhà máy bia tai khu công nghiệp Phú Bài đã chính thức đi vào hoạt động đánh dấu một bước phát triển quan trọng nữa của nhà máy.


 










1.1.3.     Text Box:                                Sông HươngText Box:  Đường Nguyễn Sinh CungText Box: Chiết Lon
Text Box: Xử Lý Nước ThảiText Box:   Kho
Text Box: Thùng Lên Men Cỡ Lớn
Text Box: Lên Men
Text Box: Khu Nấu
Text Box:      Cơ - ĐiệnText Box: Phòng Thí NghiệmText Box: Chiết Chai
Text Box: CO2Text Box: HơiText Box:     LạnhText Box: Khu Hành Chính
Text Box: Nhà ăn
Công nhân
Text Box: P. Bảo VệText Box: P.Thay đồText Box: Máy PhátText Box: Bể Nước
Right Arrow: Cổng  Text Box: Khu Tập Kết Vỏ Chai
Sơ đồ bố trí tổng mặt bằng nhà máy


                             










Text Box:     Silô
 



      Là nguyên liệu chính trong sản xuất bia, sau đây là hình ảnh của malt đại mạch như sau:




Hình 1.1.        Malt đại mạch
Ø  Vai trò:
-          Malt đại mạch là sản phẩm được chế biến từ hạt đại mạch cho nảy mầm trong điều kiện nhân tạo và sấy đến độ ẩm nhất định.
-          Malt chứa phần lớn tinh bột, đây là nguồn cung cấp chất hoà tan cho dịch đường trước lúc lên men.
-          Trong malt chứa hệ enzyme amylase phân cắt các hợp chất cao phân tử trong nội nhũ của hạt thành các sản phẩm thấp phân tử hoà tan bền vững vào nước để trở thành chất chiết của dịch đường.
-          Malt chứa các thành phần quyết định hương, vi, màu sắc, khả năng tạo bọt và độ bền của bia.
Ø  Yêu cầu:
-          Malt dùng để sản xuất bia phải sạch, có mùi thơm đặc trưng của malt, có vị ngọt, có màu vàng sáng đều. Không có mùi vị lạ, không mốc, không hôi khói. Kích thước hạt malt phải đều.
Gạo sử dụng là gạo tấm, là nguyên liệu thay thế một phần malt đại mạch. Tỷ lệ sử dụng là 30%.
Ø  Vai trò :
-          Để hạ giá thành bia
-          Tăng cường độ bền keo, những chất chứa N và polyphenol trong phần lớn gạo thường không nhiều nhưng làm tăng tính bền keo.
-          Sản xuất các loại bia nhẹ hơn, sáng màu hơn bia sản xuất hoàn toàn bằng malt.
Ø  Yêu cầu:
-          Gạo không bị mốc, không có mùi vị lạ

Hoa houblon được sử dụng trong nhà máy bia có hai loại như sau:
          Hình 1.2.  Hoa viên houblon                                Hình 1.3.  Cao hoa houblon  
-          Thành phần của hoa houblon vô cùng quan trọng đối với chất lượng bia. Phụ thuộc vào giống, điều kiện khí hậu và kỹ thuật canh tác.
-          Hoa houblon chứa 15- 21% nhựa đắng theo chất khô của hoa và có giá trị nhất. Nó tạo ra vị đắng dịu rất đặc trưng, lại có hoạt tính sinh học cao tạo ra sức căng bề mặt giúp bia có khả năng giữ bọt. Với nồng độ khá thấp ở trong bia, các chất đắng có khả năng ức chế hoạt động VSV.
-          Tinh dầu thơm của hoa 0,5- 1,5% cho mùi thơm đặc trưng.
-          Hydrocacbon ( 75%): các hợp chất này chiếm chủ yếu nhưng cũng dễ bay hơi nhất. Do vậy chúng tồn tại rất ít sau quá trình đun sôi dịch đường. Ngoài ra có các hợp chất chứa lưu huỳnh, các hợp chất chứa oxy, các tanin, chất béo và chất sáp, các nguyên tố khoáng.
      Nước là nguyên liệu sử dụng nhiều nhất trong sản xuất bia (>90%). Đặc điểm của nguồn nước này là có độ cứng khá thấp (nước mềm), lượng canxi được đảm bảo.
Ø  Vai trò:
-          Là môi trường cho quá trình đường hoá, lên men.
-          Xử lý nguyên liệu, nấu nguyên liệu.
-          Làm nguội, thanh trùng.
-          Vệ sinh sát trùng thiết bị, phân xưởng, nhà máy.
Ø  Yêu cầu:
-          Nước từ nhà máy nước được trữ trong bể nước nhà máy. Trước khi cung cấp cho quá trình nấu và lên men nước sẽ được đi qua thùng lọc than hoạt tính, sau đó qua thùng chiếu tia cực tím rồi chuyển vào tank giữ trữ, và dùng cho các công đoạn sau.

-          Nước dùng cho sản xuất bia trước hết phải đạt tiêu chuẩn nước thực phẩm, tức là không chứa mầm bệnh và các chất gây độc, nước trong, không mùi, không màu và không có vị lạ.
Mỗi chủng loại nấm men cho ra một loại bia có hương vị đặc trưng riêng. Nhà máy sử dụng chủng nấm men chìm Saccharomyces Carlsbergensis để sản xuất vì giống này đã được huấn luyện thích ứng lên men chìm, nhằm rút ngắn thời gian lên men. Số lượng men giống ít nhất phải đạt từ 15 triệu tế bào /ml khi cho vào để lên men dịch đường. Nấm men sử dụng phải là thuần chủng.
Các chất này nhằm khắc phục những yêu cầu cần thiết mà quy trình sản xuất chưa đạt tới được.
-          Nhóm phụ gia dùng để tăng nhanh quá trình đường hóa để phục vụ sản xuất như : CaCl2 bổ sung vào dịch đường hóa để bảo vệ enzyme khỏi tác động nhiệt độ, CaSO4 bổ sung vào nồi malt và nồi hoa để điều chỉnh nước.
-          Nhóm chất chống oxy hóa cho bia khi tạo môi trường pH thích hợp: Axit phosphoric.
-          Nhóm chế phẩm enzyme dùng cho đường hóa, lên men nhằm tăng quá trình lên men bia như Termamyl, Ultraflo.
-          Chất màu Caramel được điều chế từ đường dùng để điều chỉnh màu.


Chương 2: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA

2.1.      Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bia huda























                                                   
 



2.2.      Thuyết minh quy trình công nghệ sản xuất bia huda

2.2.1.  Phân xưởng nấu

2.2.1.1.           Quy trình công nghệ






Text Box: Hội cháo



 





2.2.1.1.1.        Khu nhập liệu
Malt được tập kết ở khu nhập liệu sau đó được gàu tải vận chuyển đưa qua thiết bị có nam châm để tách kim loại có lẩn trong malt, rồi tiếp đến máy sàng sơ bộ (CL1) để loại một phần tạp chất. Rồi đưa đến máy cân để biết khối lượng nhập malt vào, sau đó được gàu tải đưa đi đến silô chứa malt gồm có 5 cái trong đó mỗi cái là 120 tấn. Từ silô chứa malt được đưa đi đến máy sàng (CL2) để tách tạp chất còn lại trong malt, sau đó tiếp tục qua thiết bị có nam châm một lần nữa để lấy kim loại trong malt mà có thể tạo ra trong quá trình vận chuyển và được đưa đến máy cân tiếp theo để lấy lượng malt cần thiết cho đem đi nghiền malt bằng máy nghiền khô hai cặp trục, rồi đưa đến nồi nấu malt bằng vít tải.
Tương tự gạo cũng được nhập từ khu nhập liệu được gàu tải vận chuyển đưa qua thiết bị có nam châm để tách kim loại lẫn trong gạo, sau đó đưa đến máy sàng để tách cặn và các tạp chất có trong gạo. Rồi được chuyển đến máy cân để biết được khối lượng gạo nhập vào và được đưa đến silô chứa có một silô chứa gạo. Từ silô chứa gạo được đưa qua thiết bị có nam châm để tách kim loại có trong gạo có thể có trong quá trình vận chuyển gạo, rồi đưa đến máy cân để đo lượng gạo đi nghiền thích hợp bằng máy nghiền khô một cặp trục. Sau đó từ gạo nghiền được đưa đến nồi nấu gạo bằng vít tải.
2.2.1.1.2.        Khu nấu
Nồi nấu gạo đầu tiên ta cho nước vào trước có nhiệt đô 77oC khoảng 50hl và sao đó cho 1400 Kg gạo nghiền, sau đó bổ sung thêm 135g Enzyme Termamyl và 5,6Kg CaSO4. Sau đó nâng nhiệt độ lên 90oC trong thời gian 20 phút, rồi nghỉ trong thời gian 20 phút. Sau 20 phút nâng lên nhiệt độ sôi 100oC trong vòng 10 phút, rồi nghỉ ở nhiệt độ sôi trong thời gian là 30 phút.
Nồi malt ta cho bột malt với nước vào cùng một lần thông qua bộ phận hoà malt có trên nồi nấu malt, trong đó có 75hl nước ở 41oC và 2900Kg malt trong thời gian là 25 phút. Sau đó bổ sung 5,6Kg CaCl2 và 460g enzyme Ultraflo.
Sau 25 phút hoà malt xong ta cho hội cháo từ nồi nấu gạo về nồi malt trong vòng 10 phút, lúc này nhiệt độ hỗn hợp là 65oC là nhiệt độ đường hoá và nghỉ ở nhiệt độ đó trong thời gian là 60 phút, cứ sau 10 phút là khấy nồi malt một lần. Sau 60 phút là kiểm tra độ đường hoá bằng phương pháp dùng iốt nếu chưa đạt thì tiếp tục nghỉ và sau 10 phút kiểm tra một lần đến khi đạt độ đường hoá. Nếu đạt độ đường hoá triệt để ta nâng nhiệt độ lên 76oC trong thời gian 10 phút. Sau đó chuyển toàn bộ dịch đường hoá từ nồi malt sang thùng lọc.
Dịch sau khi đường hóa xong được bơm đến thùng lọc Lauter tuns. Đầu tiên bơm 4hl nước nóng để làm ngập dao, tránh gây cháy thiết bị, làm nóng thiết bị và tránh làm tắc thiết bị do dịch cháo đưa vào.
Quá trình lọc chia làm 2 giai đoạn:
-          Giai đọan lọc dịch đầu: Giai đoạn tách dịch ra khỏi bã, lọc được 110 hl. Trong suốt quá trình lọc, bã đóng vai trò như một lớp vật liệu lọc. Sau giai đoạn đầu lọc dịch trong được đem nấu hoa.
-          Giai đoạn rửa bã: Để thu hồi những chất chiết còn sót lại trong bã. Rửa bằng nước 780C, và lượng nước sử dụng là 170hl nước. Không sử dụng quá nhiều nước làm loãng dịch đường làm kéo dài thời gian trong quá trình nấu.
Sau quá trình lọc tổng dich thu được khoảng 240 hl, được chuyển sang nồi houblon hoá.
Khi dịch lọc bơm qua thiết bị houblon hoá được 160 hl thì ngập bầu gia nhiệt và được tiến hành gia nhiệt. Trong quá trình đun houblon dịch lọc rửa bã tiếp tục bơm qua nồi houblon hoá. Khi kết thúc quá trình lọc cũng là lúc dịch vừa sôi. Khi dịch sôi mở nắp thiết bị và cho hoá chất vào. Gồm có Hoa houblon (0,5kg  houblon cao, 4,5kg houblon viên), 1200ml axit H3PO4, 3 lít caramen tạo màu. Sau đó tiếp tục gia nhiệt, sau 60 phút thì ngưng gia nhiệt. Sau khi bốc hơi trong quá trình gia nhiệt tổng thể tích còn lại khoảng 225hl. Dịch này sẽ chuyển nhanh qua bể lắng Whirlpool trong vòng 10 phút và lắng trong vòng 20 phút ở nhiệt độ 95oC lúc này bã houblon đóng ở đáy tạo hình vòng cung được tháo ra ngoài. Tiếp tục địch đường hoá đã lọc được đưa đi làm lạnh nhanh bằng thiết bị làm lạnh dạng bảng với tác nhân lạnh là nước lạnh 2 – 3oC trao đổi nhiệt với dịch đường hoá từ 95oC thành 16oC và được chuyển qua khu lên men.

2.2.1.2.           Các thiết bị chính trong phân xưởng nấu

2.2.1.2.1.        Thiết bị nghiền khô 2 cặp trục
Mục đích:
-          Nghiền nhỏ malt để khi đường hóa thu được nhiều chất hòa tan nhất có lợi cho sản xuất và chất lượng thành phẩm, hạn chế các chất không có lợi tan vào dịch đường và sử dụng tốt nhất các thành phần của malt.
-          Tùy mức độ phân hủy của malt mà có mức độ nghiền mịn khác nhau.
-          Vỏ trấu được sử dụng như một chất trợ lọc dịch đường và hạn chế các chất hòa tan của nó vào dịch đường, chỉ nên nghiền dập hay nghiền bẹp không nghiền mịn, đảm bảo tách hết nội nhũ khỏi vỏ.
Cấu tạo:
2
Hình 2.1.        Thiết bị nghiền khô 2 cặp trục
Chú thích: 1- Trục cấp liệu; 2- Malt vào; 3- Đôi trục nghiền thô; 4- Đôi trục nghiên lại vỏ; 5- Sàng rung; 6- Vỏ và tấm; 7- Hỗn hợp bột min sau khi nghiền thô; 8- Bột min.
Nguyên lý hoạt động:
Malt từ trục cấp liệu xuống đôi trục nghiền 3. Phần bột mịn lọt qua lỗ sàng 5 đi ra ngoài theo 8. Phần còn lại không đi qua sàng thì tiếp tục tách bột ra khỏi vỏ khi qua đôi trục thứ hai 4 rùi đi ra ngoài.
2.2.1.2.2.        Thiết bị nồi nấu
Mục đích:
Chuyển các chất từ trạng thái không hòa tan sang trạng thái hòa tan nhờ tác động của enzyme có sẵn trong malt tức là tạo ra được càng nhiều chất chiết và chất lượng dịch càng cao càng tốt.
v Nồi nấu gạo
Cấu tạo: Gồm:
1 - ống thoát hơi; 2- nắp đậy; 3- CIP; 4- đền báo; 5- cửa quan sát; 6- thành thiết bị; 7- lớp bảo ôn; 8- thang; 9- cánh khuấy; 10- ống truyền nhiệt; 11- sản phẩm ra; 12- động cơ; 13- nạp liệu.
3
Hình 2.2.        Nồi nấu gạo
Nguyên lý hoạt động:
Gạo sau khi được nghiền xong sẽ được đưa vào thiết bị nấu theo hướng từ trên xuống. Nhiệt cấp vào thiết bị theo đường ống dẫn nhiệt ở phía đáy và thân thiết bị. Dưới đáy thiết bị có cánh khuấy hoạt động được nhờ mô tơ, mục đích của cánh khuấy làm cho nhiệt độ của khối dịch được đồng đều. Sau khi thực hiện quá trình trao đổi nhiệt nước ngưng được tháo ra ở dưới đáy thiết bị theo đường ống riêng. Sau mỗi mẻ làm việc thì nồi nấu được làm vệ sinh thông qua bộ phận CIP như hình vẽ phía trên.
v Nồi nấu malt
Cấu tạo:
Nồi malt có cấu tạo cơ bản là giống nồi nấu gạo, tuy nhiên thể tích nồi malt lớn hơn nhiều, không có lớp áo cách nhiệt bao xung quanh nồi, mà chỉ có ở dưới đáy nồi. Ngoài ra cách nạp nguyên liệu malt vào nồi cần có bộ hòa trộn nước và malt trước khi vào nấu.
7
Hình 2.3.       Bộ hòa trộn
Chú thích: 1- Malt vào; 2- Cấp nước; 3- Ống dẫn nước; 4- Hỗn hợp nước malt
Nguyên lý hoạt động:
Malt sau khi nghiền được hòa trộn với nước ở bộ hòa trộn phía trên nồi, sau đó được đưa vào nồi nấu. Nhờ nhiệt được cấp ở ống truyền nhiệt ở dưới đáy nồi mà giúp cho quá trình gia nhiệt của nồi nấu. Dưới đáy thiết bị có cánh khuấy hoạt động nhờ động cơ phía dưới giúp cho nhiệu độ của khối nguyên liệu được đồng điều. Dịch sau khi đường hóa song được lấy ra ở dưới đáy thiết bị. Tuy nhiên thiết bị cũng có hệ thống CIP làm vệ sinh được đặt ở phía trên nồi.
2.2.1.2.3.        Thiết bị lọc Lautertun
Mục đích:
Tách dịch đường hay dịch hèm với vỏ và những phần nội nhũ của hạt không. Ngoài ra còn mong muốn giữ lại cùng với bã những chất không mong muốn như kim loại nặng, tanin, lipit…
Cấu tạo:
1
Hình 2.4.        Thiết bị lọc Lautertun
Chú thích: 1-Của; 2-Đèn; 3-CIP; 4-Vòi phun nước rủa; 5-Lớp bảo ôn; 6-Cửa xả bã; 7-Trục cánh khuấy; 8-Cánh khuấy, dao cạo bã; 9-Vị trí dao thấp khi cào bã; 10-Các ống thu dịch lọc; 11-Đường ống thu dịch lọc; 12-Bơm; 13-Thùng chứa dịch lọc; 14-Ống cấp dịch; 15-Motor, trục nâng/hạ cánh khuấy; 16-Thùng chứa bã; 17-Đế thiết bị.
Nguyên lý hoạt động:
      Trước khi cho dịch hèm vào ta phải khóa van tháo bã và các vòi lấy dịch đường sau đó cho đầy nước nóng vào các ống dẫn dịch hèm. Sau đó chuyển dịch hèm vào thùng lọc càng nhanh càng tốt và khuấy đều để dàng đều bã trên bề mặt đáy, dịch hèm được bơm từ dưới lên và cánh khuấy hoạt động liên tục với vận tốc chậm trong khi bơm dịch hèm vào lọc. Sau khi bơm dịch hèm vào thùng lọc cần để lắng một khoảng thời gian nhất định. Quá trình lọc diễn ra càng nhanh càng tốt và cần phải giữ nhiệt độ trong suốt quá trình lọc. Nếu dịch lọc ban đầu bị đục thì cần bơm lại đến thùng lọc, khi quan sát thấy dịch lọc bắt đầu trong thì tiến hành khóa van hồi lưu và thu dịch. Dịch chảy ra càng nhanh càng tốt để không làm mất thời gian. Sau đó tiến hành rữa bã, nước rữa bã có nhiệt độ 780C rửa bã cho đến khi độ đường trong nước rửa nhỏ hơn 10P và pH <6 thì dừng lại. Dịch rửa bã cùng với dịch lọc đầu đem tiến hành houblon hóa.
2.2.1.2.4.        Thiết bị Houblon hóa
Mục đích:
Nhằm trích ly các chất đắng, chất thơm có trong hoa vào trong bia, ổn định thành phần dịch đường, làm cho dịch đường có nồng độ thích hợp theo yêu cầu, keo tụ các protid, vô hoạt enzim và thanh trùng dịch đường.
Cấu tạo:
56
Chú thích: 1-Ống thoát hơi; 2-Cửa; 3-Nắp phân tán dịch; 4-Bộ phận gia nhiệt trung tâm; 5-Hơi nóng vào; 6-Xả nước ngưng.
 
Chú thích: 1-Nắp phân tán dịch; 2-Dịch đường; 3-Dòng dịch đường phun lên; 4-Đầu phun; 5-Ống chum dịch đường chảy qua; 6-Đáy thiết bị đun hoa; 7-Dich đường vào; 8-Dịch đường ra; 9-Hơi nóng vào; 10-Nước ngưng.
 
Hình 2.5.a.     Thiết bị houblon hóa           Hình 2.5.b.     Bộ phận cấp nhiệt bên trong
                                                                                                 



Nguyên lý hoạt động:
Sau khi tiến hành lọc bã malt dịch lọc được bơm qua thiết bị houblon hóa từ phía dưới, dịch được gia nhiệt lên nhờ hệ thống cấp nhiệt bên trong. Sau đó bổ sung cao hoa, hoa viên và caramen ngay giai đoạn đầu của quá trình houblon. Nâng nhiệt độ khối dịch lên đến nhiệt độ sôi, rồi để nhiệt đó trong một khoảng thời gian nhất định. Sau đó chuyển toàn bộ khối dịch sang thiết bị lắng Whirlpool.
2.2.1.2.5.        Thiết bị lắng Whirlpool
Mục đích:
-           Loại bỏ cặn ở dạng huyền phù và cặn từ hoa houblon
-           Làm lạnh dịch đường
Cấu tạo:
4
Hình 2.6.        Thiết bị lắng Whirlpool
Chú thích: 1- Ống thoát hơi; 2- nắp trên; 3- Loại bổ nước ngưng; 4- CIP; 5- Đèn; 6-Cửa quan sát và ra vào vệ sinh; 7- Ống thủy; 8- Bảo ôn; 9- Đáy nghiêng 1%; 10- Vòi phun vệ sinh đáy; 11- Đường dịch vào theo phương tiếp tuyến; 12- Lấy dịch ra.
Nguyên lý  hoạt động:
      Dịch đường sau khi houblon hóa được bơm vào thùng theo phương tiếp tuyến và dòng chảy vận tốc lớn và liên tục tạo nên chuyển động xoáy của khối dịch trong whirlpool. Các hạt lơ lửng chịu tác dụng đồng thời của lực ly tâm, lực ma sát giữa chất lỏng với đáy và thành bình, chyển động xoáy men theo thành và đáy thùng. Kết quả sẽ làm chúng lắng tụ vào tâm đáy thùng. Thông qua đường ống đặt cao hơn đáy ta thu được dịch trong gọi là dịch đường sau houblon.
2.2.1.2.6.        Thiết bị làm lạnh
Mục đích:
Đưa nhiệt độ của dịch đường xuống nhiệt độ lên men. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bão hoà thêm một lượng oxy cần thiết và loại trừ cặn còn trong dịch đường.
Cấu tạo:
Hình 2.7: Thiết bị làm lạnh dạng tấm
Chú thích: 1- Dịch lọc vào; 2- Dịch lọc ra; 3- Nước trao đổi nhiệt vào; 4- Nước trao đổi nhiệt ra; 5- Bọc kín.
Ngyên lý hoạt động:






Dịch đường chảy vào một đầu, chảy qua đường khía tạo thành giữa hai tấm bản và đi ra đường khác, trong khi nước làm lạnh chảy theo chiều ngược lại theo các rãnh kế tiếp của các tấm bản để ra ngoài.

2.2.2.  Phân xưởng lên men

2.2.2.1.           Quy trình công nghệ



 











2.2.2.1.1.        Lên men
Dịch đường sau khi làm lạnh xuống 160C được đưa vào thùng lên men chia làm 4 mẻ và mỗi mẻ là 225hl. Trên đường ống dẫn dịch đường vào thùng lên men ta tiến hành bơm men và sục O2 cho mẻ đầu nhằm lên men sinh khối. Ở đây, lượng men cần phải cung cấp cho một thùng lên men trong mẻ đầu có mật độ nấm men là 15 triệu tế bào / ml. Còn 3 mẻ còn lại ta tiếp tục cho vào thùng lên men nhưng không tiến hành bơm men, mà chỉ sục Oxy. Chú ý Oxy phải được vô trùng, hàm lượng 8 - 10 ppm. Mục đích cấp Oxy vào nhằm đảm bảo cho nấm men sinh trưởng và phát triển ở giai đoạn đầu của quá trình lên men, thực hiện lên men sinh khối. Trong quá trình lên men gồm hai giai đoạn như sau:
-          Quá trình lên men chính:
Sau khi đã bơm dịch đầy thùng, tiến hành lên men ở 16 0C trong khoảng 7 – 8 ngày. Ở giai đoạn này quá trình lên men xảy ra mạnh, phần lớn đường đã chuyển thành rượu, CO2 và các sản phẩm phụ khác như: glycerin, acid sucxinic, acid formic, acid acetic, este, aldehit…. Sau thời gian lên men khoảng 5h thì tiến hành thu hồi CO2 vì lúc này nồng độ CO2 có thể lên đến 99,7%. Việc thu hồi khí CO2 thông qua hệ thống của nhà máy để tái sử dụng.
Trong quá trình lên men chính, áp suất trong tank luôn duy trì ở mức 0,5Bar. Nếu áp suất vượt quá giới hạn này thì thiết bị tự động tiến hành xả áp. Mỗi ngày lên men đều phải lấy mẫu để theo dõi nhiệt độ, áp suất, mật độ men, pH và kiểm tra độ plasto. Khi độ chênh lệch plasto của ba ngày liên tiếp ∆P ≤ 0.15 thì kết thúc quá trình lên men chính chuyển sang quá trình lên men phụ ở nhiệt độ 8oC.
-          Quá trình lên men phụ:
Quá trình giữ và hạ nhiệt được thực hiện tự động nhờ hệ thống áo lạnh của thiết bị lên men. Ở giai đoạn này ta tiếp tục lên men ở nhiệt độ 8oC, và đặt áp suất lên 0.7 Bar, lúc này men được lắng xuống và ta tiến hành thu hồi men ở đáy thiết bị. Khi tiến hành lên men ở nhiệt độ này phải thường xuyên theo dõi và kiểm tra chỉ số VDK. Nếu VDK ≤ 0.15 ppm thì hạ nhiệt độ của dịch xuống -1oC để tàng trử và thời gian tàng trữ khoảng 1 ngày.
Sau khi kết thúc quá trình lên men chính tiến hành thu hồi sinh khối nấm men chuyển vào tank tàng trử men. Nấm men được rửa bằng nước lạnh vô trùng để loại bỏ các chất cặn ,chất đắng làm bẩn nấm men sau khi lên men hay xác men chết nổi lên trên. Nấm men sạch được trữ trong các thùng trữ men ở nhiệt độ 40C. Thông thường chỉ lưu trữ và tái sử dụng men giống khoảng  9 – 10 thế hệ.
2.2.2.1.2.        Lọc bia
Sau khi kết thúc quá trình lên men, dịch lên men được chuyển qua thiết bị lọc. Trên đường đi có cung cấp CO2 vào dịch lên men. Thiết bị lọc được sử dụng là máy lọc khung bản có sử dụng bột trợ lọc (diatomit).
Quá trình lọc gồm 2 bước chính:
Phủ bột trợ lọc:
Lớp bột đầu tiên có kích thước lớn, sát với vật liệu lọc có nhiệm vụ ngăn cản các hạt bột có kích thước nhỏ hơn lọt qua. Lớp bột thứ hai gồm những hạt có kích thước trung bình đảm bảo bia lọc có độ trong nhất định.
Trong quá trình lọc chính, bột trợ lọc tiếp tục được bổ sung vào cung với bia cần lọc với một lượng xác định nhờ hệ thống bơm định lượng ngoài ra còn bổ sung chất chống oxi hoá Na2S2O5 , 2,5g/hl.
Lọc bia:
Sử dụng máy lọc khung bản, đầu tiên sử dụng nước không có oxi để loại bỏ hết oxi trong máy lọc. Sau đó bơm bia đã hoà trộn với bột trợ lọc vào thiết bị lọc. Các chất lơ lững và bột trợ lọc bám lại trên lớp giấy lọc, còn bia trong được lọc và qua các tấm bản ra ngoài.
Trong quá trình lọc lớp bột tăng lên làm tăng áp suất và làm giảm hiệu suất lọc, khoảng 6 Bar thì ngưng và làm vệ sinh. Sau khi lọc thô xong dịch lên men được chuyển qua lọc tinh và thiết bị kiểm tra độ cồn. Vì nồng độ cồn đạt được trong quá trình nấu thường cao hơn yêu cầu. Để thay đổi độ cồn sử dụng nước vô trùng đã loại bỏ oxi. Nồng độ cồn đạt yêu cầu là: 4,5 độ. Sau khi lọc xong bia được chuyển qua thùng chứa bia trong. Bia được trữ trong 12 thiết bị BBT, sau đó kiểm tra chất lượng bia trong BBT nếu đạt yêu cầu thì chuyển qua khu chiết rót.

2.2.2.2.           Các thiết bị chính trong phân xưởng lên men

2.2.2.2.1.        Thiết bị lên men
Mục đích:
Đảm bảo điều kiện thích hợp cho sự sống và phát triển của nấm men để dưới tác dụng của nấm men sẽ chuyển đường thành rượu, CO2 và các sản phẩm phụ khác góp phần tạo hương vị cho bia.
Cấu tạo:
1- Sàn thao tác
2- Nắp trên
5,6,8- Vùng làm lạnh kín
3- Thân thiết bị
4- Kính quan sát
7- Lớp bảo ôn
9- Ống dẫn chất tảilạnh
9a- Ống xã chất tải lạnh
10- Vùng làm lạnh phần đáy côn.
11- Van xoay để cho dịch vào và lấy dịch ra.
12- Van lấy mẫu.
13- Ống để dẫn CO2, không khí, CIP vào và ra.
14- Van điều chỉnh áp suất
15- Dụng cụ đo mức                                                  Hình 2.8.  Thiết bị lên men CCV

Nguyên lý hoạt động:
Dịch lên men được đưa vào thiết bị ở đường ống phía dưới. Sau khi lên men, bia tạo thành cùng được lấy ra theo đường ống đó nhờ một van 3 ngã. Oxy và men giống cũng được cấp vào thiết bị trong cùng đường ống đó. Khi lên men khí CO2 tạo ra nhiều đến áp suất 0.5 bar được tháo ra nhờ van tự động. Trong thời gian lên men quá trình giữ nhiệt và hạ nhiệt được thực hiện nhờ hệ thống 3 lớp áo lạnh. Cặn và men lắng trong thiết bị đựơc tháo ra ở đáy. Sau khi lên men tiến hành vệ sinh thiết bị nước rửa và xút theo đường ống dẫn phun từ trên xuống nhờ vòi CIP.
2.2.2.2.2.        Thiết bị lọc
Mục đích:
-          Tạo độ trong long lánh, tăng độ bền và giá trị cảm quan của bia thành phẩm.
-          Loại bỏ đáng kể số lượng các vi sinh vật bao gồm nấm men.
-          Loại bỏ các phức chất protein, các hạt dạng keo polyphenol, polysaccarit và protein ít tan.
4
 
3
 
1
 
2
 
5
 
6
 
Cấu tạo:
10
 
9
 
7
 
8
 
Hình 2.9.        Thiết bị lọc khung bản
Chú thích: 1- Bản lọc; 2- Trục ép khung bản; 3- Giấy lọc; 4- Khung lọc; 5- Đồng hồ đo áp suất bia vào máy lọc; 6- Đồng hồ đo áp suất bia ra khỏi máy lọc; 7- Đường dẫn bia vào máy lọc; 8- Đường dẫn bia ra khỏi máy lọc; 9- Thanh đỡ; 10- Chân máy.

Nguyên lý hoạt động:
Máy lọc khung bản bao gồm các khung và bản được ngăn với nhau bằng các tấm giấy lọc phủ cả hai phía của bản. Sau khi các khung và bản được ép sát nhau, khoảng không giữa các khung sẽ là nơi chứa huyền phù bột trợ lọc và bia cần lọc. Lớp áo bột trợ lọc sẽ được phủ lên bề mặt giấy lọc, bia trong được lọc và đi qua các tấm bản và ra ngoài. Thông qua đồng hồ đo áp suất bia ra và vào máy lọc mà ta có thể vệ sinh máy lọc thích hợp.

2.2.3.  Phân xưởng chiết

2.2.3.1.           Quy trình công nghệ



 




















2.2.3.2.           Rửa chai

Mục đích: Nhằm rửa sạch hoàn toàn cặn bên trong và bên ngoài vỏ chai, bóc nhãn của vỏ chai, đồng thời đảm bảo chai được vô trùng để chuẩn bị cho quá trình chiết.
Cấu tạo:
 






Hình 2.10.      Thiết bị rửa
Chú thích: 1- Cửa chai vào; 2- Bể ngâm rửa sơ bộ; 3- Khu vực phun sơ bộ; 4- Các bể ngâm xút; 5- Khu vực phun rửa sau ngâm xút; 6- Cửa chai ra
Nguyên tắc hoạt động: Chai theo băng tải được đưa vào thiết bị rửa chai nhờ cơ cấu nạp. Sau đó chai lần lượt đi qua các buồng:
Ø Buồng 1: Vể ngâm sơ bộ:
·        Để loại bỏ bia còn sót trong chai.
·        Hòa tan các chất bẩn bên ngoài chai.
·        Làm ấm chai dần đến nhiệt độ của xút rửa.
      Sau khi ngâm sơ bộ, chai được tiếp tục ngâm và phun rửa trong các bể chứa NaOH để hòa tan hết cặn bẩn còn sót và sát trùng chai. Thời gian ngâm được điều chỉnh bằng tốc độ của băng tải. Băng tải được sắp xếp nhiều tầng trong bể xút để tăng thời gian ngâm. Trong máy có bố trí nhiều bể xút với các nồng độ và nhiệt độ khác nhau để tăng hiệu quả làm sạch như sau:
Ø Buồng 2: Ngâm chai trong xút nóng 780C, với nồng độ xút  2%. Nhãn chai bong hết, foi nhôm gặp xút tạo thành muối và H2. Trong quá trình này cần bổ sung chất phụ gia (phụ gia máy rửa) có tên thương mại là: DS1299. Nó có tác dụng tăng cường độ bóng cho chai và làm bên chai, phá bọt tạo thành và tiêu diệt côn trùng.
Ø Buồng 3: Bể nước nóng rửa xút. Nhiệt độ nước: 45÷500C. Mục đích loại bỏ xút còn lại trong chai, và làm sạch chai.
Ø Buồng 4: Bể nước ấm, nhiệt độ nước khoảng 34÷400C. Mục đích làm giảm nhiệt độ của chai và tiếp tục làm sạch chai.
Ø Buồng 5: Bể nước thường để hạ nhiệt độ của chai bằng nhiệt độ đầu vào của chai.
      Phần phía trên của máy rửa có bố trí hệ thống phun rửa. Ở đây, các chai được dốc ngược để miệng chai hướng xuống phía dưới nhờ vậy chai được phun cả bên trong và bên ngoài.
      Để đảm bảo làm sạch bên trong chai, áp lực của vòi phun phải mạnh. Đồng thời, các vòi phun đựợc bố trí tương ứng với sự vận chuyển của băng tải chai. Các vòi phun có thể nghiêng để phun dịch vào chai ở các góc phun khác nhau đảm bảo phun được toàn bộ trong chai.
      Các chất không tan, cặn bẩn được lắng xuống đáy thùng rửa và xút được dẫn qua hệ thống sàng để tách nhãn và được gia nhiệt rồi đưa trở lại bể xút. Trong quá trình rửa cần bổ sung xút vì xút bị hao hụt trong quá rửa. Yêu cầu chai sau khi rửa nồng độ NaOH không vượt quá 0,3ml/chai và tổng thời gian rửa chai: 30 phút

2.2.3.3.           Kiểm tra chai sau rửa

Mục đích: Chai sau khi ra khỏi máy rửa chai, theo băng tải lần lượt qua người ngồi soi chai, có vai trò kiểm tra chai. Nếu còn bẩn thì đưa về lại máy rửa chai, nếu bị nứt, mẻ, sứt miệng… thì loại bỏ luôn.

2.2.3.4.           Chiết chai

Yêu cầu:
-          Không làm tổn thất bia.
-          Toàn bộ các chai được rót đủ lượng bia.
-          Chất lượng bia không bị ảnh hưởng: Tránh sự nhiễm tạp vi sinh vật, sự xâm nhập O2, tổn thất CO2.
Cấu tạo:


 






Hình 2.11.      Máy chiết bia
Nguyên tắc: Bia được chiết theo nguyên tắc đẳng áp, diễn ra hai giai đoạn:
-          Tạo áp suất trong chai bằng với áp suất trong bể chứa bia.
-          Dòng bia tự chảy nhờ chênh lệch chiều cao khi đã có sự cân bằng áp suất.
Cách tiến hành:
      Chai sau khi đã đảm bảo yêu cầu được băng tải đưa đến máy chiết và đóng nắp.Chiết bia vào chai gồm các giai đoạn:
-         Giai đoạn hút chân không lần 1 và lần 2, để lạo bỏ triệt để không khí bên trong chai
-         Giai đoạn đẩy CO2 vào chai, để tạo áp suất cân bằng trong chai và trong bể chứa bia.
-         Sau đó bia sẽ tự động chảy vào do sự chênh lệch độ cao, tránh được sự tạo bọt trong quá trình rót bia vào chai gây khó đầy chai.
-         Quá trình đầy chai: quá trình rót sẽ ngừng lại khi mức bia trong chai chạm tới ống dẫn khí ra của đầu chiết. Khi đó van thông khí phía trên bể chứa bia đóng lại.
-         Hạ chỏi vòi chiết.
-         Chai sau khi đã được nạp bia nhanh chóng đưa qua máy đóng nắp. Trước khi đóng nắp có phun tia nước vào chai bia để loại O2 và bọt, hàm lượng nước phun vào rất ít. Nhiệt độ nước phun 83 ÷ 850C, áp suất phun 4,2Bar.
Thông số kỹ thuật:
-          Nhiệt độ bia nạp vào là: 120C.
-          Áp suất bơm chân không khoảng: -0,74bar.
-          Dung tích bia trong chai: 0,45lit.
-          Số vòi chiết của máy: 48 vòi.
-          Năng suất chiết: 15800b/h.
-          Không chiết bia đầy chai mà để lại một khoảng không phía trên để chống lại áp suất tạo ra do CO2 trong chai giải phóng ra, nhất là khi thanh trùng.
Sự cố máy chiết chai:
-          Chai không chịu được áp lực dẫn đến nổ chai.
-          Đứt van vòi chiết dẫn đến chiết bia lưng.

2.2.3.5.           Đóng nắp chai

      Sau khi chiết, chai được siết nút càng nhanh càng tốt, vì vậy máy đóng nắp chai được gắn cùng một khối với máy chiết và được vận hành từ cùng một động cơ sao cho sự làm việc của hai máy tương ứng nhau. Trước khi đóng nắp, có bố trí một tia nước nhỏ mạnh nhằm cân bằng độ bia, đồng thời giải phóng một lượng CO2 vừa đủ để đẩy O2 ra ngoài.
      Nắp bia được sử dụng làm bằng sắt không gỉ có mạ thiếc, phía trên có hình logo của công ty. Xung quanh nắp chai có răng, phía trong nút chai có lớp đệm có nhiệm vụ làm kín miệng chai khi chiết để không cho O2 xâm nhập vào chai hoặc CO2 thoát ra khỏi chai.
      Nắp chai được dẫn vào máy dập nắp bằng một băng tải từ, qua cơ cấu đặc biệt để xoay nắp chai theo đúng hướng trong quá trình dập nắp.
      Khi nắp được đặt trên miệng chai, trong quá trình dập nắp, răng cưa nắp sẽ bị nén xuống và bao lấy miệng chai. Lớp đệm sẽ bị ép sát và nhờ đó làm kín miệng chai.        
      Đầu xiết nắp được hạ xuống sát miệng chai. Nắp chai được giữ bởi nam châm của đầu xiết. Nhờ lực tác động của đầu xiết, răng của nắp được ép sát miệng chai. Khi đó chai được nâng lên giải phóng chai sang giai đoạn tiếp theo. 
Sự cố máy đóng nắp: Nghẹt nắp dẫn đến dừng máy
Khắc phục: Gạt nắp ra và cho máy chạy.

2.2.3.6.           Thanh trùng

Mục đích:
       Tiêu diệt vi sinh vật xâm nhập vào trong quá trình chiết gây hư hỏng bia.
Phương pháp thanh trùng:
      Các chai lần lượt đi qua các bể của thiết bị thanh trùng lần lượt qua các chế độ nhiệt khác nhau trong khoảng thời gian xác định nhờ hệ thống băng tải chuyển động liên tục.
      Chai được nạp vào một đầu và được di chuyển dưới các vùng có phun nước ở các nhiệt độ khác nhau. Nhiệt độ của các khoang được bố trí sao cho bia dần dần được nâng tới nhiệt độ thanh trùng, sau đó chai tiếp tục được làm nguội dần xuống nhiệt độ thường.
Nhiệt độ thanh trùng khoảng từ 61÷620C.           
Cấu tạo của bể thanh trùng:
Gồm 10 bể, chia làm 3 khu vực:
Khu vực 1: từ bể 1÷3, nâng nhiệt để thanh trùng.
Khu vực 2: từ bể 4÷7, nhiệt độ thanh trùng.       
Khu vực 3: từ bể 8÷10, hạ nhiệt độ xuống bằng nhiệt độ vào của chai.
Nhiệt độ tương ứng của các bể:
                                                Bể 1: 290C                             Bể 6: 61,70C
                                                Bể 2: 38,50C                          Bể 7:610C
                                                Bể 3: 49,30C                          Bể 8: 49,50C
                                                Bể 4: 61,90C                          Bể 9: 39,60C
                                                Bể 5: 61,70C                          Bể 10: 28,20C
Nguồn nhiệt cung cấp vào bể là: 88, 40C
Sự cố và cách khắc phục:
Hơi cấp vào không đều dẫn đến thanh trùng không đạt yêu cầu.
Khắc phục: có van tự động điều chỉnh cấp hơi vào.
Quá tải dẫn đến đứt xích.
Khắc phục: công nhân vận hành ngừng máy sửa chữa.

2.2.3.7.   Kiểm tra chai sau thanh trùng

      Để tiếp tục loại bỏ những chai không đúng quy cách như: không có bia trong chai, nắp không đúng quy cách…

2.2.3.8.   Dán nhãn chai

Nhãn mác của sản phẩm:
      Nhãn mác của sản phẩm có vai trò cung cấp thông tin về sản phẩm, đồng thời nhãn mác có tác động rất lớn tới người tiêu dung thông qua cách bố trí, nhãn mác…
Thông thường trên chai bia thành phẩm gồm các nhãn mác sau:
-          Nhãn ở thân chai: cung cấp thông tin chính về sản phẩm.
-          Nhãn phía lưng chai (phía đối diện với nhãn ở thâm chai).
-          Nhãn cổ chai: nhãn mác của sản phẩm có vai trò trang trí.

2.2.3.9.           Rửa két

      Két bẩn sau khi đã bốc dở chai ra được đưa đến máy rửa két. Ở đây két được đưa qua 2 vùng: vùng 1 chứa NaOH (tận dụng từ máy rửa chai) có nhiệt độ 800C được đun nóng nhờ hơi nước có tác dụng làm sạch cặn bản bám trên két và sát trùng két sau đó đưa qua  vùng 2 chứa nước lạnh để làm sạch NaOH và loại bỏ hoàn toàn cặn bẩn, két sạch theo băng tải đến bộ phận bốc dở bia thành phẩm đển bốc dở chai vào kết rồi đưa vào kho.

2.2.3.10.         Bốc dở bia thành phẩm

      Sau khi rửa sạch, két được băng tải vận chuyển đến máy bốc chai, đồng thời bia sau khi dãn nhãn củng theo băng tải đi đến bộ phận bốc chai. Tại đây bia được bốc bia vào két. Sau đó chuyển vào kho lưu trữ.

2.2.4.  Xử lý nước thải

2.2.4.1.           Quy trình công nghệ



 








2.2.4.2.           Thuyết minh dây chuyền

      Đầu tiên nước thải nhà máy sẽ được đưa qua chứa ở bể ngâm, bể này là một bể chứa thông thường là khâu chuẩn bị cho quá trình xử lý nước thải tiếp theo.
      Lưới lọc:  công đoạn xử lý đầu tiên là qua lưới lọc, mục đích giữ lại các vật có kích thước lớn gồm rác từ vỏ chai..lưới lọc để nghiêng. Để lưới lọc hoạt động tốt nên thường xuyên kiểm tra có bị tắc lưới hay không, và làm vệ sinh lưới lọc định kỳ.
      Bể cân bằng: sau khi lọc nước đưa qua ở bể cân bằng, luôn giữ nước thải ở mức 80%  thể tích bể, pH < 7. Người ta không bổ sung hóa chất vào bể này mà tự nó xảy ra quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ thành các axit béo dễ bay hơi, khoảng 80% lượng hợp chất hữu cơ được oxy hóa.
      Bể khí metan: Chứa các vi sinh vật kị khí, để phân giải các hợp chất hữu cơ thành CH4 và H2 …Độ pH trong bể tối ưu cho vi sinh vật phát triển là từ: 7÷7,8. Nếu độ pH không đạt yêu cầu thì sử dụng xút hoặc axit để điều chỉnh độ pH tối thích. Năng suất phân giải tại bể khoảng 80÷90%
      Bể chảy tràn: một phần nước thải sau khi xử lý được hồi lưu về lại đầu cấp nước vào với 2 mục đích:
-          Tăng áp suất vào của nước thải cấp vào (nước thải cấp vào + nước hồi lưu luôn đạt lưu lượng 58m3/h)
-          Giảm chỉ số OD
      Bể hiếu khí: vi sinh vật hiếu khí tiếp tục phân giải các hợp chất hữu cơ còn lại. Cánh khuấy hoạt động liên tục để cung cấp O2 cho vi sinh vật sử dụng.
      Bể lắng gạn: nước thải sau khi xử lý ở bể hiếu khí chuyển qua với mục đính lắng bùn, bùn này sẽ hôi lưu về lại bể hiếu khí, còn nước trong được thải ra sông.

Chương 3: AN TOÀN LAO ĐỘNG NHÀ MÁY BIA

Để đảm bảo công việc ổn định và sức khỏe người lao động trong nhà máy chúng ta cần phải thực hiện theo các quy tắc sau:
-          Trước khi giao ca hay nhận ca tất cả các cán bộ, công nhân trong phân xưởng phải thực hiện các quy định sau nhằm đảm bảo an toàn lao động và nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất. Phải thường xuyên kiểm tra hệ thống máy móc, thiết bị có hư hỏng hay không, kiểm tra dây tiếp đất đề phòng rò rỉ điện giật.
-          Đề phòng hoá chất, bia nổ.
-          Làm đúng theo hướng dẫn, sơ đồ quy trình công nghệ tuyệt đối không được tự ý làm khác. Khi cần thay đổi bất cứ điều gì phải thông báo đề nghị trước với trưởng ca hoặc người có trách nhiệm.
-          Công nhân lao động tuỳ theo từng phân xưởng mà phải biết và tuân thủ các quy định. Thường xuyên được tập huấn về nội quy an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng cháy, chữa cháy và được cấp bảo hộ lao động.
-          Trong quá trình sản xuất, người lao động phải theo dõi phát hiện kịp thời những hư hỏng, trục trặc, yếu tố nguy hiểm. Nhanh chóng xử lý hay báo cáo với trưởng ca hoặc người có trách nhiệm biết.
-          Những vấn đề liên quan đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhà máy sẽ giải quyết theo đúng quy định hiện hành của luật lao động.
-          Trong nhà máy các cán bộ cũng như toàn bộ công nhân điều nghiêm túc chấp hành những qui định mà công ty đưa ra. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất thì những sai sót có thể xảy ra là điều không thể tránh khỏi mà tuỳ theo mức độ vi phạm mà nhà máy có hình thức xử lí khác nhau.

KẾT LUẬN

Qua quá trình thực tập ở nhà máy bia Huế đã giúp chúng em cũng cố được kiến thức và tăng tính liên hệ với thực tế. Trong thời gian thực tập chúng em đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm thực tế mà khi trên ghế nhà trường vẫn còn thắc mắc.
Qua tìm hiểu về nhà máy chúng em đã làm rõ một số vấn đề về nhà máy bia huế như sau:
-          Quy trình công nghệ của nhà máy.
-          Cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của các trang thiết bị liên quan đến dây chuyền sản xuất.
-          Sơ đồ bố trí mặt bằng và cách bố trí các trang thiết bị của nhà máy.
-          Các kĩ thuật hiện đại liên quan đến công nghệ sản xuất bia
Tuy thời gian ngắn nhưng nhờ sự chỉ bảo nhiệt tình của các anh chị tại phòng kĩ thuật của nhà máy đã giúp chúng em hoàn thành tốt quá trình thực thực tập này. Cuối cùng chúng em xin gởi lời cảm ơn, lời chúc sức khỏe đến quý nhà máy.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Tài liệu nội bộ của nhà máy bia Huế.
2.      Sách “ Khoa học – Công nghệ Malt và Bia” của “GS. TS. Nguyễn Thị Hiền (chủ biên) và nhiều cộng tác khác” – Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật.

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................