MỤC LỤC
Bia là loại
nước giải khát có từ lâu đời và được mọi người trên thế giới rất ưa chuộng. Bia
được chế biến từ những nguồn nguyên liệu chính như malt đại mạch, hoa houblon,
nước và một số nguyên liệu khác… Bia có vị đắng dễ chịu, hàm lượng cồn thấp và
các chất hoà tan trong bia được con người hấp thu tốt, vì vậy bia có giá trị
dinh dưỡng và khả năng sinh năng lượng cao. Nên trong 10 năm trở lại đây lượng
bia sản xuất ngày càng tăng, đội ngũ cán bộ kĩ thuật và số người quan tâm đến
công nghệ sản xuất bia càng nhiều.
Nhà máy bia Huế được thành lập
ngày 20/10/1990 với quyết định số 905/QĐ/UB của ủy ban nhân dân tỉnh thừa thiên
huế. Nhà máy ra đời theo hình thức liên doanh có vốn góp từ các đơn vị kinh tế
quốc doanh trong tỉnh và vốn vay ngân hàng với số vốn đầu tư ban đầu là
2.4 triệu USD và công suất 3 triệu lit/năm.
Nhà máy được xây dựng trên khu
đất có diện tích 67000 m2, nằm ở mặt tiền đường Nguyễn Sinh
Cung huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Phía Tây giáp sông Hương,cách cảng
Thuận An khoảng 7 Km, cạnh quốc lộ 1A do đó rất thuận tiện trong việc giao
thông và vận chuyển hàng hoá. Sau 10 tháng
xây dựng, từ tháng 2/1990 đến 11/1990. Sản phẩm của nhà máy bia Huda ra đời vào
cuối tháng 11/1990.
Bia Huda được
sản suất theo quy trình công nghệ tiên tiến nhất của hãng DANBREWCONSULT-ĐAN
MẠCH cung cấp thiết bị và kĩ thuật công nghệ. Sự ra đời của việc liên doanh
giữa nhà máy bia Huế với hãng TUBORG INTERNATIONAL A/S (TIAS) và quỹ công
nghiệp hoá dành cho các nước phát triển (IUF Đan Mạch) gọi là công ty bia Huế,
từ đó giúp công ty giới thiệu loại bia có chất lượng và tiêu chuẩn
quốc tế.
Chất lượng cao và giá cả hợp lý với người tiêu
dùng là chiến lược lâu dài của công ty Bia Huế, nhất là đối với sản phẩm bia
HUDA đã đưa nhà máy phát triển vượt bậc. Công suất của nhà máy không ngừng tăng, với tốc độ
tăng trưởng như sau:
|
Năm
|
1991
|
1992
|
1993
|
1995
|
1998
|
2007
|
2010
|
2011
|
|
Công suất
(triệu lít/năm)
|
3
|
6
|
12
|
30
|
50
|
100
|
178
|
230
|
Sản phẩm của công ty bia Huế
được khách hàng chấp nhận và ưa chuộng trong và ngoài nước. Bia Huda chiếm vị
trí hàng đầu tại các tỉnh miền trung như Huế, Quãng Trị,Quãng Bình, Hà Tĩnh,
Nghệ An và có mặt trên cả nước. Ngoài ra sản phẩm của công ty là loại bia đầu
tiên xuất khẩu sang Mỹ. Từ đó đến nay, công ty liên tục xuất khẩu bia sang Mỹ,
Canada, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Lào vơi nhãn hiệu sản phẩm HUE BEER tạo nên
tiếng vang lớn trên thị trường thế giới, mở ra triển vọng mới, thúc đẩy sự phát
triển mạnh hơn.
Nhà máy bia Huế được thành
lập ngày 20 tháng 10 năm 1990, với công suất ban đầu là 3 triệu lít/năm. Hai
năm sau, năm 1992 công suất của nhà máy đã được nâng lên gấp đôi là 6 triệu
lít/ năm.
Năm 1994, Công ty Bia Huế với
sản phẩm: Hue beer là một trong những sản phẩm của Việt Nam đầu tiên tự tin đi
vào thị trường Hoa Kỳ. Đến nay, các sản phẩm của Công ty Bia Huế là Hue beer và
Huda beer đã có mặt trên nhiều châu lục: từ châu Á (chủ yếu ở các thị
trường như Malaysia, Indonesia, Lào, Nhật Bản) sang châu Âu (Pháp, Bồ
đào Nha, Anh), từ Australia sang Hoa Kỳ đến Canada...
Đến năm 1998, năng lực sản
xuất của Công ty Bia Huế đã được nâng lên 50 triệu lít/năm, đánh dấu sự phát
triển vượt bậc trong quá trình hình thành và phát triển của công ty. Là một
trong mười đơn vị liên doanh làm ăn có hiệu quả nhất tại Việt Nam, với 100%
nhân viên là người Việt, Công ty Bia Huế đã chứng tỏ được năng lực làm việc,
khả năng điều hành và niềm tin của đối tác. Với sự phát triển không ngừng, Công
ty Bia Huế dự kiến sẽ đưa nhà máy bia tới Khu công nghiệp Phú Bài có công suất
100 triệu lít /năm vào hoặt động vào cuối năm 2007.
Đến đầu năm 2008 Nhà máy bia
tai khu công nghiệp Phú Bài đã chính thức đi vào hoạt động đánh dấu một bước
phát triển quan trọng nữa của nhà máy.
1.1.3. 





















Sơ đồ
bố trí tổng mặt bằng nhà máy
Là nguyên liệu chính trong sản xuất bia,
sau đây là hình ảnh của malt đại mạch như sau:
Hình 1.1. Malt đại mạch
Ø
Vai trò:
-
Malt đại mạch là sản phẩm được chế biến từ hạt
đại mạch cho nảy mầm trong điều kiện nhân tạo và sấy đến độ ẩm nhất định.
-
Malt chứa phần lớn tinh bột, đây là nguồn cung
cấp chất hoà tan cho dịch đường trước lúc lên men.
-
Trong malt chứa hệ enzyme amylase phân cắt các
hợp chất cao phân tử trong nội nhũ của hạt thành các sản phẩm thấp phân tử hoà
tan bền vững vào nước để trở thành chất chiết của dịch đường.
-
Malt chứa các thành phần quyết định hương, vi,
màu sắc, khả năng tạo bọt và độ bền của bia.
Ø
Yêu cầu:
-
Malt dùng để sản xuất bia phải sạch, có mùi thơm
đặc trưng của malt, có vị ngọt, có màu vàng sáng đều. Không có mùi vị lạ, không
mốc, không hôi khói. Kích thước hạt malt phải đều.
Gạo sử dụng là
gạo tấm, là nguyên liệu thay thế một phần malt đại mạch. Tỷ lệ sử dụng là 30%.
Ø Vai trò :
-
Để hạ
giá thành bia
-
Tăng
cường độ bền keo, những chất chứa N và polyphenol trong phần lớn gạo thường
không nhiều nhưng làm tăng tính bền keo.
-
Sản
xuất các loại bia nhẹ hơn, sáng màu hơn bia sản xuất hoàn toàn bằng malt.
Ø Yêu cầu:
-
Gạo
không bị mốc, không có mùi vị lạ


Hoa houblon được sử
dụng trong nhà máy bia có hai loại như sau:
Hình 1.2. Hoa viên houblon
Hình 1.3. Cao hoa houblon
-
Thành phần của hoa houblon vô cùng quan trọng
đối với chất lượng bia. Phụ thuộc vào giống, điều kiện khí hậu và kỹ thuật canh
tác.
-
Hoa houblon chứa 15- 21% nhựa đắng theo chất khô
của hoa và có giá trị nhất. Nó tạo ra vị đắng dịu rất đặc trưng, lại có hoạt
tính sinh học cao tạo ra sức căng bề mặt giúp bia có khả năng giữ bọt. Với nồng
độ khá thấp ở trong bia, các chất đắng có khả năng ức chế hoạt động VSV.
-
Tinh dầu thơm của hoa 0,5- 1,5% cho mùi thơm đặc
trưng.
-
Hydrocacbon ( 75%): các hợp chất này chiếm chủ
yếu nhưng cũng dễ bay hơi nhất. Do vậy chúng tồn tại rất ít sau quá trình đun
sôi dịch đường. Ngoài ra có các hợp chất chứa lưu huỳnh, các hợp chất chứa oxy,
các tanin, chất béo và chất sáp, các nguyên tố khoáng.
Nước là
nguyên liệu sử dụng nhiều nhất trong sản xuất bia (>90%). Đặc điểm của nguồn
nước này là có độ cứng khá thấp (nước mềm), lượng canxi được đảm bảo.
Ø
Vai trò:
-
Là môi trường cho quá trình đường hoá, lên men.
-
Xử lý nguyên liệu, nấu nguyên liệu.
-
Làm nguội, thanh trùng.
-
Vệ sinh sát trùng thiết bị, phân xưởng, nhà máy.
Ø
Yêu cầu:
-
Nước từ nhà máy nước được trữ trong bể nước nhà
máy. Trước khi cung cấp cho quá trình nấu và lên men nước sẽ được đi qua thùng
lọc than hoạt tính, sau đó qua thùng chiếu tia cực tím rồi chuyển vào tank giữ
trữ, và dùng cho các công đoạn sau.
-
Nước dùng cho sản xuất bia trước hết phải đạt
tiêu chuẩn nước thực phẩm, tức là không chứa mầm bệnh và các chất gây độc, nước
trong, không mùi, không màu và không có vị lạ.
Mỗi
chủng loại nấm men cho ra một loại bia có hương vị đặc trưng riêng. Nhà máy sử
dụng chủng nấm men chìm Saccharomyces Carlsbergensis
để sản xuất vì giống này đã được huấn luyện thích ứng lên men chìm, nhằm rút
ngắn thời gian lên men. Số lượng men giống ít nhất phải đạt từ 15 triệu tế bào
/ml khi cho vào để lên men dịch đường. Nấm men sử dụng phải là thuần chủng.
Các
chất này nhằm khắc phục những yêu cầu cần thiết mà quy trình sản xuất chưa đạt
tới được.
-
Nhóm phụ gia dùng để tăng nhanh quá trình đường
hóa để phục vụ sản xuất như : CaCl2 bổ sung vào dịch đường hóa để
bảo vệ enzyme khỏi tác động nhiệt độ, CaSO4 bổ sung vào nồi malt và nồi hoa để
điều chỉnh nước.
-
Nhóm chất chống oxy hóa cho bia khi tạo môi
trường pH thích hợp:
Axit phosphoric.
-
Nhóm chế phẩm enzyme dùng cho đường hóa, lên men
nhằm tăng quá trình lên men bia như Termamyl, Ultraflo.
-
Chất màu Caramel được điều chế từ đường dùng để
điều chỉnh màu.
2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bia huda
2.2.1.1.1. Khu nhập liệu
Malt được tập
kết ở khu nhập liệu sau đó được gàu tải vận chuyển đưa qua thiết bị có nam châm
để tách kim loại có lẩn trong malt, rồi tiếp đến máy sàng sơ bộ (CL1) để loại
một phần tạp chất. Rồi đưa đến máy cân để biết khối lượng nhập malt vào, sau đó
được gàu tải đưa đi đến silô chứa malt gồm có 5 cái trong đó mỗi cái là 120 tấn.
Từ silô chứa malt được đưa đi đến máy sàng (CL2) để tách tạp chất còn lại trong
malt, sau đó tiếp tục qua thiết bị có nam châm một lần nữa để lấy kim loại
trong malt mà có thể tạo ra trong quá trình vận chuyển và được đưa đến máy cân
tiếp theo để lấy lượng malt cần thiết cho đem đi nghiền malt bằng máy nghiền
khô hai cặp trục, rồi đưa đến nồi nấu malt bằng vít tải.
Tương tự gạo cũng
được nhập từ khu nhập liệu được gàu tải vận chuyển đưa qua thiết bị có nam châm
để tách kim loại lẫn trong gạo, sau đó đưa đến máy sàng để tách cặn và các tạp
chất có trong gạo. Rồi được chuyển đến máy cân để biết được khối lượng gạo nhập
vào và được đưa đến silô chứa có một silô chứa gạo. Từ silô chứa gạo được đưa
qua thiết bị có nam châm để tách kim loại có trong gạo có thể có trong quá
trình vận chuyển gạo, rồi đưa đến máy cân để đo lượng gạo đi nghiền thích hợp
bằng máy nghiền khô một cặp trục. Sau đó từ gạo nghiền được đưa đến nồi nấu gạo
bằng vít tải.
Nồi nấu gạo
đầu tiên ta cho nước vào trước có nhiệt đô 77oC khoảng 50hl và sao
đó cho 1400 Kg gạo nghiền, sau đó bổ sung thêm 135g Enzyme Termamyl và 5,6Kg
CaSO4. Sau đó nâng nhiệt độ lên 90oC trong thời gian 20
phút, rồi nghỉ trong thời gian 20 phút. Sau 20 phút nâng lên nhiệt độ sôi 100oC
trong vòng 10 phút, rồi nghỉ ở nhiệt độ sôi trong thời gian là 30 phút.
Nồi malt ta cho
bột malt với nước vào cùng một lần thông qua bộ phận hoà malt có trên nồi nấu
malt, trong đó có 75hl nước ở 41oC và 2900Kg malt trong thời gian là
25 phút. Sau đó bổ sung 5,6Kg CaCl2 và 460g enzyme Ultraflo.
Sau 25 phút
hoà malt xong ta cho hội cháo từ nồi nấu gạo về nồi malt trong vòng 10 phút,
lúc này nhiệt độ hỗn hợp là 65oC là nhiệt độ đường hoá và nghỉ ở
nhiệt độ đó trong thời gian là 60 phút, cứ sau 10 phút là khấy nồi malt một
lần. Sau 60 phút là kiểm tra độ đường hoá bằng phương pháp dùng iốt nếu chưa
đạt thì tiếp tục nghỉ và sau 10 phút kiểm tra một lần đến khi đạt độ đường hoá.
Nếu đạt độ đường hoá triệt để ta nâng nhiệt độ lên 76oC trong thời
gian 10 phút. Sau đó chuyển toàn bộ dịch đường hoá từ nồi malt sang thùng lọc.
Dịch sau khi đường hóa xong được bơm đến thùng lọc
Lauter tuns. Đầu tiên bơm 4hl nước nóng để làm ngập dao, tránh gây cháy
thiết bị, làm nóng thiết bị và tránh làm tắc thiết bị do dịch cháo đưa vào.
Quá trình lọc chia làm 2 giai đoạn:
-
Giai đọan lọc dịch đầu: Giai đoạn tách dịch ra
khỏi bã, lọc được 110 hl. Trong suốt quá trình lọc, bã đóng vai trò như một lớp
vật liệu lọc. Sau giai đoạn đầu lọc dịch trong được đem nấu hoa.
-
Giai đoạn rửa bã: Để thu hồi những chất chiết
còn sót lại trong bã. Rửa bằng nước 780C, và lượng nước sử dụng là
170hl nước. Không sử dụng quá nhiều nước làm loãng dịch đường làm kéo dài thời
gian trong quá trình nấu.
Sau quá trình
lọc tổng dich thu được khoảng 240 hl, được chuyển sang nồi houblon hoá.
Khi dịch lọc bơm
qua thiết bị houblon hoá được 160 hl thì ngập bầu gia nhiệt và được tiến hành
gia nhiệt. Trong quá trình đun houblon dịch lọc rửa bã tiếp tục bơm qua nồi houblon
hoá. Khi kết thúc quá trình lọc cũng là lúc dịch vừa sôi. Khi dịch sôi mở nắp
thiết bị và cho hoá chất vào. Gồm có Hoa houblon (0,5kg houblon cao, 4,5kg houblon viên), 1200ml axit
H3PO4, 3 lít caramen tạo màu. Sau đó tiếp tục gia nhiệt, sau
60 phút thì ngưng gia nhiệt. Sau khi bốc hơi trong quá trình gia nhiệt tổng thể
tích còn lại khoảng 225hl. Dịch này sẽ chuyển nhanh qua bể lắng Whirlpool trong
vòng 10 phút và lắng trong vòng 20 phút ở nhiệt độ 95oC lúc này bã
houblon đóng ở đáy tạo hình vòng cung được tháo ra ngoài. Tiếp tục địch đường
hoá đã lọc được đưa đi làm lạnh nhanh bằng thiết bị làm lạnh dạng bảng với tác
nhân lạnh là nước lạnh 2 – 3oC trao đổi nhiệt với dịch đường hoá từ 95oC
thành 16oC và được chuyển qua khu lên men.
Mục đích:
-
Nghiền nhỏ malt để khi đường hóa thu được nhiều
chất hòa tan nhất có lợi cho sản xuất và chất lượng thành phẩm, hạn chế các
chất không có lợi tan vào dịch đường và sử dụng tốt nhất các thành phần của
malt.
-
Tùy mức độ phân hủy của malt mà có mức độ nghiền
mịn khác nhau.
-
Vỏ trấu được sử dụng như một chất trợ lọc dịch đường
và hạn chế các chất hòa tan của nó vào dịch đường, chỉ nên nghiền dập hay
nghiền bẹp không nghiền mịn, đảm bảo tách hết nội nhũ khỏi vỏ.
Cấu tạo:
Hình 2.1. Thiết bị nghiền
khô 2 cặp trục
Chú thích: 1- Trục
cấp liệu; 2- Malt vào; 3- Đôi trục nghiền thô; 4- Đôi trục nghiên lại vỏ; 5- Sàng
rung; 6- Vỏ và tấm; 7- Hỗn hợp bột min sau khi nghiền thô; 8- Bột min.
Nguyên lý hoạt động:
Malt từ trục cấp liệu xuống đôi
trục nghiền 3. Phần bột mịn lọt qua lỗ sàng 5 đi ra ngoài theo 8. Phần còn lại
không đi qua sàng thì tiếp tục tách bột ra khỏi vỏ khi qua đôi trục thứ hai 4
rùi đi ra ngoài.
Mục đích:
Chuyển các chất
từ trạng thái không hòa tan sang trạng thái hòa tan nhờ tác động của enzyme có
sẵn trong malt tức là tạo ra được càng nhiều chất chiết và chất lượng dịch càng
cao càng tốt.
v Nồi
nấu gạo
Cấu tạo: Gồm:
1 - ống thoát
hơi; 2- nắp đậy; 3- CIP; 4- đền báo; 5- cửa quan sát; 6- thành thiết bị; 7- lớp
bảo ôn; 8- thang; 9- cánh khuấy; 10- ống truyền nhiệt; 11- sản phẩm ra; 12-
động cơ; 13- nạp liệu.
Hình 2.2. Nồi nấu gạo
Nguyên lý hoạt động:
Gạo sau khi được nghiền xong sẽ được đưa vào thiết
bị nấu theo hướng từ trên xuống. Nhiệt cấp vào thiết bị theo đường ống dẫn
nhiệt ở phía đáy và thân thiết bị. Dưới đáy thiết bị có cánh khuấy hoạt động
được nhờ mô tơ, mục đích của cánh khuấy làm cho nhiệt độ của khối dịch được
đồng đều. Sau khi thực hiện quá trình trao đổi nhiệt nước ngưng được tháo ra ở
dưới đáy thiết bị theo đường ống riêng. Sau mỗi mẻ làm việc thì nồi nấu được
làm vệ sinh thông qua bộ phận CIP như hình vẽ phía trên.
v Nồi
nấu malt
Cấu tạo:
Nồi malt có
cấu tạo cơ bản là giống nồi nấu gạo, tuy nhiên thể tích nồi malt lớn hơn nhiều,
không có lớp áo cách nhiệt bao xung quanh nồi, mà chỉ có ở dưới đáy nồi. Ngoài
ra cách nạp nguyên liệu malt vào nồi cần có bộ hòa trộn nước và malt trước khi
vào nấu.
Hình
2.3. Bộ hòa trộn
Chú thích: 1- Malt vào; 2- Cấp nước; 3- Ống dẫn
nước; 4- Hỗn hợp nước malt
Nguyên lý hoạt động:
Malt sau khi nghiền được hòa trộn với nước
ở bộ hòa trộn phía trên nồi, sau đó được đưa vào nồi nấu. Nhờ nhiệt được cấp ở
ống truyền nhiệt ở dưới đáy nồi mà giúp cho quá trình gia nhiệt của nồi nấu.
Dưới đáy thiết bị có cánh khuấy hoạt động nhờ động cơ phía dưới giúp cho nhiệu
độ của khối nguyên liệu được đồng điều. Dịch sau khi đường hóa song được lấy ra
ở dưới đáy thiết bị. Tuy nhiên thiết bị cũng có hệ thống CIP làm vệ sinh được
đặt ở phía trên nồi.
Mục
đích:
Tách
dịch đường hay dịch hèm với vỏ và những phần nội nhũ của hạt không. Ngoài ra
còn mong muốn giữ lại cùng với bã những chất không mong muốn như kim loại nặng,
tanin, lipit…
Cấu tạo:
Hình 2.4. Thiết bị lọc Lautertun
Chú thích: 1-Của; 2-Đèn; 3-CIP;
4-Vòi phun nước rủa; 5-Lớp bảo ôn; 6-Cửa xả bã; 7-Trục cánh khuấy; 8-Cánh
khuấy, dao cạo bã; 9-Vị trí dao thấp khi cào bã; 10-Các ống thu dịch lọc;
11-Đường ống thu dịch lọc; 12-Bơm; 13-Thùng chứa dịch lọc; 14-Ống cấp dịch;
15-Motor, trục nâng/hạ cánh khuấy; 16-Thùng chứa bã; 17-Đế thiết bị.
Nguyên lý hoạt động:
Trước khi cho dịch hèm vào ta phải khóa
van tháo bã và các vòi lấy dịch đường sau đó cho đầy nước nóng vào các ống dẫn
dịch hèm. Sau đó chuyển dịch hèm vào thùng lọc càng nhanh càng tốt và khuấy đều
để dàng đều bã trên bề mặt đáy, dịch hèm được bơm từ dưới lên và cánh khuấy
hoạt động liên tục với vận tốc chậm trong khi bơm dịch hèm vào lọc. Sau khi bơm
dịch hèm vào thùng lọc cần để lắng một khoảng thời gian nhất định. Quá trình
lọc diễn ra càng nhanh càng tốt và cần phải giữ nhiệt độ trong suốt quá trình
lọc. Nếu dịch lọc ban đầu bị đục thì cần bơm lại đến thùng lọc, khi quan sát
thấy dịch lọc bắt đầu trong thì tiến hành khóa van hồi lưu và thu dịch. Dịch
chảy ra càng nhanh càng tốt để không làm mất thời gian. Sau đó tiến hành rữa
bã, nước rữa bã có nhiệt độ 780C rửa bã cho đến khi độ đường trong
nước rửa nhỏ hơn 10P và pH <6 thì dừng lại. Dịch rửa bã cùng với
dịch lọc đầu đem tiến hành houblon hóa.
Mục đích:
Nhằm trích ly
các chất đắng, chất thơm có trong hoa vào trong bia, ổn định thành phần dịch đường,
làm cho dịch đường có nồng độ thích hợp theo yêu cầu, keo tụ các protid, vô
hoạt enzim và thanh trùng dịch đường.
Cấu tạo:
Chú thích: 1-Ống thoát hơi;
2-Cửa; 3-Nắp phân tán dịch; 4-Bộ phận gia nhiệt trung tâm; 5-Hơi nóng vào;
6-Xả nước ngưng.
|
|
Chú thích: 1-Nắp phân tán dịch; 2-Dịch đường; 3-Dòng
dịch đường phun lên; 4-Đầu phun; 5-Ống chum dịch đường chảy qua; 6-Đáy
thiết bị đun hoa; 7-Dich đường vào; 8-Dịch đường ra; 9-Hơi nóng vào;
10-Nước ngưng.
|
|
Hình 2.5.a. Thiết
bị houblon hóa Hình 2.5.b. Bộ
phận cấp nhiệt bên trong
Nguyên lý hoạt động:
Sau khi tiến
hành lọc bã malt dịch lọc được bơm qua thiết bị houblon hóa từ phía dưới, dịch
được gia nhiệt lên nhờ hệ thống cấp nhiệt bên trong. Sau đó bổ sung cao hoa,
hoa viên và caramen ngay giai đoạn đầu của quá trình houblon. Nâng nhiệt độ
khối dịch lên đến nhiệt độ sôi, rồi để nhiệt đó trong một khoảng thời gian nhất
định. Sau đó chuyển toàn bộ khối dịch sang thiết bị lắng Whirlpool.
Mục đích:
- Loại bỏ
cặn ở dạng huyền phù và cặn từ hoa houblon
- Làm lạnh
dịch đường
Cấu tạo:
Hình 2.6. Thiết
bị lắng Whirlpool
Chú thích: 1- Ống thoát hơi; 2- nắp
trên; 3- Loại bổ nước ngưng; 4- CIP; 5- Đèn; 6-Cửa quan sát và ra vào vệ sinh;
7- Ống thủy; 8- Bảo ôn; 9- Đáy nghiêng 1%; 10- Vòi phun vệ sinh đáy; 11- Đường
dịch vào theo phương tiếp tuyến; 12- Lấy dịch ra.
Nguyên lý hoạt động:
Dịch đường sau khi houblon hóa được bơm
vào thùng theo phương tiếp tuyến và dòng chảy vận tốc lớn và liên tục tạo nên
chuyển động xoáy của khối dịch trong whirlpool. Các hạt lơ lửng chịu tác dụng
đồng thời của lực ly tâm, lực ma sát giữa chất lỏng với đáy và thành bình,
chyển động xoáy men theo thành và đáy thùng. Kết quả sẽ làm chúng lắng tụ vào
tâm đáy thùng. Thông qua đường ống đặt cao hơn đáy ta thu được dịch trong gọi
là dịch đường sau houblon.
Mục đích:
Đưa nhiệt độ của dịch
đường xuống nhiệt độ lên men. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
bão hoà thêm một lượng oxy cần thiết và loại trừ cặn còn trong dịch đường.
Cấu tạo:
Hình 2.7: Thiết bị làm lạnh dạng tấm
Chú thích: 1- Dịch lọc vào; 2- Dịch lọc ra; 3- Nước trao
đổi nhiệt vào; 4- Nước trao đổi nhiệt ra; 5- Bọc kín.
Ngyên lý hoạt động:
Dịch đường
chảy vào một đầu, chảy qua đường khía tạo thành giữa hai tấm bản và đi ra đường
khác, trong khi nước làm lạnh chảy theo chiều ngược lại theo các rãnh kế tiếp
của các tấm bản để ra ngoài.
Dịch đường sau
khi làm lạnh xuống 160C được đưa vào thùng lên men chia làm 4 mẻ và
mỗi mẻ là 225hl. Trên đường ống dẫn dịch đường vào thùng lên men ta tiến hành
bơm men và sục O2 cho mẻ đầu nhằm lên men sinh khối. Ở đây, lượng
men cần phải cung cấp cho một thùng lên men trong mẻ đầu có mật độ nấm men là
15 triệu tế bào / ml. Còn 3 mẻ còn lại ta tiếp tục cho vào thùng lên men nhưng
không tiến hành bơm men, mà chỉ sục Oxy. Chú ý Oxy phải được vô trùng, hàm
lượng 8 - 10 ppm. Mục đích cấp Oxy vào nhằm đảm bảo cho nấm men sinh trưởng và
phát triển ở giai đoạn đầu của quá trình lên men, thực hiện lên men sinh khối.
Trong quá trình lên men gồm hai giai đoạn như sau:
-
Quá
trình lên men chính:
Sau khi đã bơm dịch đầy thùng, tiến hành lên men ở
16 0C trong khoảng 7 – 8 ngày. Ở giai đoạn này quá trình lên men xảy
ra mạnh, phần lớn đường đã chuyển thành rượu, CO2 và các sản phẩm
phụ khác như: glycerin, acid sucxinic, acid
formic, acid acetic, este, aldehit…. Sau thời gian lên men khoảng 5h thì
tiến hành thu hồi CO2 vì lúc này nồng độ CO2 có thể lên
đến 99,7%. Việc thu hồi khí CO2 thông qua hệ thống của nhà máy để
tái sử dụng.
Trong quá trình lên men chính, áp suất trong tank
luôn duy trì ở mức 0,5Bar. Nếu áp suất vượt quá giới hạn này thì thiết bị tự
động tiến hành xả áp. Mỗi ngày lên men đều phải lấy mẫu để theo dõi nhiệt độ,
áp suất, mật độ men, pH và kiểm tra độ plasto. Khi độ chênh lệch plasto của ba
ngày liên tiếp ∆P ≤ 0.15 thì kết thúc quá
trình lên men chính chuyển sang quá trình lên men phụ ở nhiệt độ 8oC.
-
Quá
trình lên men phụ:
Quá trình giữ và hạ nhiệt được thực hiện tự động
nhờ hệ thống áo lạnh của thiết bị lên men. Ở giai đoạn này ta tiếp tục lên men
ở nhiệt độ 8oC, và đặt áp suất lên 0.7 Bar, lúc này men được lắng
xuống và ta tiến hành thu hồi men ở đáy thiết bị. Khi tiến hành lên men ở nhiệt
độ này phải thường xuyên theo dõi và kiểm tra chỉ số VDK. Nếu VDK ≤ 0.15 ppm
thì hạ nhiệt độ của dịch xuống -1oC để tàng trử và thời gian tàng
trữ khoảng 1 ngày.
Sau khi kết thúc quá trình lên men chính tiến hành
thu hồi sinh khối nấm men chuyển vào tank tàng trử men. Nấm men được rửa bằng
nước lạnh vô trùng để loại bỏ các chất cặn ,chất đắng làm bẩn nấm men sau khi
lên men hay xác men chết nổi lên trên. Nấm men sạch được trữ trong các thùng
trữ men ở nhiệt độ 40C. Thông thường chỉ lưu trữ và tái sử dụng men
giống khoảng 9 – 10 thế hệ.
Sau khi kết thúc quá trình lên men, dịch lên men
được chuyển qua thiết bị lọc. Trên đường đi có cung cấp CO2 vào dịch
lên men. Thiết bị lọc được sử dụng là máy lọc khung bản có sử dụng bột trợ lọc
(diatomit).
Quá trình lọc gồm 2 bước chính:
Phủ bột trợ lọc:
Lớp bột đầu tiên có kích thước lớn, sát với vật
liệu lọc có nhiệm vụ ngăn cản các hạt bột có kích thước nhỏ hơn lọt qua. Lớp
bột thứ hai gồm những hạt có kích thước trung bình đảm bảo bia lọc có độ trong
nhất định.
Trong quá trình lọc chính, bột trợ lọc tiếp tục
được bổ sung vào cung với bia cần lọc với một lượng xác định nhờ hệ thống bơm
định lượng ngoài ra còn bổ sung chất chống oxi hoá Na2S2O5
, 2,5g/hl.
Lọc bia:
Sử dụng máy lọc khung bản, đầu tiên sử dụng nước
không có oxi để loại bỏ hết oxi trong máy lọc. Sau đó bơm bia đã hoà trộn với
bột trợ lọc vào thiết bị lọc. Các chất lơ lững và bột trợ lọc bám lại trên lớp
giấy lọc, còn bia trong được lọc và qua các tấm bản ra ngoài.
Trong quá trình lọc lớp bột tăng lên làm tăng áp
suất và làm giảm hiệu suất lọc, khoảng 6 Bar thì ngưng và làm vệ sinh. Sau khi
lọc thô xong dịch lên men được chuyển qua lọc tinh và thiết bị kiểm tra độ cồn.
Vì nồng độ cồn đạt được trong quá trình nấu thường cao hơn yêu cầu. Để thay đổi
độ cồn sử dụng nước vô trùng đã loại bỏ oxi. Nồng độ cồn đạt yêu cầu là: 4,5
độ. Sau khi lọc xong bia được chuyển qua thùng chứa bia trong. Bia được trữ
trong 12 thiết bị BBT, sau đó kiểm tra chất lượng bia trong BBT nếu đạt yêu cầu
thì chuyển qua khu chiết rót.
Mục đích:
Đảm bảo điều kiện thích hợp cho sự sống và
phát triển của nấm men để dưới tác dụng của nấm men sẽ chuyển đường thành rượu,
CO2 và các sản phẩm phụ khác góp phần tạo hương vị cho bia.
Cấu tạo:
1- Sàn thao tác
2- Nắp trên
5,6,8- Vùng làm lạnh kín
3- Thân thiết bị
4- Kính quan sát
7- Lớp bảo ôn
9- Ống dẫn chất tảilạnh
9a- Ống xã chất tải lạnh
10- Vùng làm lạnh phần đáy côn.
11- Van xoay để cho dịch vào và lấy dịch ra.
12- Van lấy mẫu.
13- Ống để dẫn CO2, không khí, CIP vào
và ra.
14- Van điều chỉnh áp suất
15- Dụng cụ đo mức Hình
2.8. Thiết bị lên men CCV
Nguyên lý hoạt động:
Dịch lên men được đưa vào thiết bị ở đường ống
phía dưới. Sau khi lên men, bia tạo thành cùng được lấy ra theo đường ống đó
nhờ một van 3 ngã. Oxy và men giống cũng được cấp vào thiết bị trong cùng đường
ống đó. Khi lên men khí CO2 tạo ra nhiều đến áp suất 0.5 bar được
tháo ra nhờ van tự động. Trong thời gian lên men quá trình giữ nhiệt và hạ
nhiệt được thực hiện nhờ hệ thống 3 lớp áo lạnh. Cặn và men lắng trong thiết bị
đựơc tháo ra ở đáy. Sau khi lên men tiến hành vệ sinh thiết bị nước rửa và xút
theo đường ống dẫn phun từ trên xuống nhờ vòi CIP.
Mục đích:
-
Tạo
độ trong long lánh, tăng độ bền và giá trị cảm quan của bia thành phẩm.
-
Loại
bỏ đáng kể số lượng các vi sinh vật bao gồm nấm men.
-
Loại
bỏ các phức chất protein, các hạt dạng keo polyphenol, polysaccarit và protein
ít tan.
Cấu tạo:








Hình 2.9. Thiết bị lọc
khung bản
Chú thích: 1- Bản lọc; 2- Trục ép
khung bản; 3- Giấy lọc; 4- Khung lọc; 5- Đồng hồ đo áp suất bia vào máy lọc; 6-
Đồng hồ đo áp suất bia ra khỏi máy lọc; 7- Đường dẫn bia vào máy lọc; 8- Đường
dẫn bia ra khỏi máy lọc; 9- Thanh đỡ; 10- Chân máy.
Nguyên lý hoạt động:
Máy lọc khung bản bao gồm các khung và bản được
ngăn với nhau bằng các tấm giấy lọc phủ cả hai phía của bản. Sau khi các khung
và bản được ép sát nhau, khoảng không giữa các khung sẽ là nơi chứa huyền phù
bột trợ lọc và bia cần lọc. Lớp áo bột trợ lọc sẽ được phủ lên bề mặt giấy lọc,
bia trong được lọc và đi qua các tấm bản và ra ngoài. Thông qua đồng hồ đo áp
suất bia ra và vào máy lọc mà ta có thể vệ sinh máy lọc thích hợp.
Mục đích: Nhằm rửa sạch hoàn toàn cặn
bên trong và bên ngoài vỏ chai, bóc nhãn của vỏ chai, đồng thời đảm bảo chai được
vô trùng để chuẩn bị cho quá trình chiết.
Cấu tạo:
Hình 2.10. Thiết bị rửa
Chú
thích: 1- Cửa chai vào; 2- Bể ngâm rửa sơ bộ; 3- Khu vực phun sơ bộ; 4- Các bể
ngâm xút; 5- Khu vực phun rửa sau ngâm xút; 6- Cửa chai ra
Nguyên tắc hoạt động: Chai theo băng tải
được đưa vào thiết bị rửa chai nhờ cơ cấu nạp. Sau đó chai lần lượt đi qua các
buồng:
Ø
Buồng 1: Vể
ngâm sơ bộ:
·
Để loại bỏ bia còn sót trong chai.
·
Hòa tan các chất bẩn bên ngoài chai.
·
Làm ấm chai dần đến nhiệt độ của xút rửa.
Sau khi ngâm sơ bộ, chai được tiếp tục
ngâm và phun rửa trong các bể chứa NaOH để hòa tan hết cặn bẩn còn sót và sát
trùng chai. Thời gian ngâm được điều chỉnh bằng tốc độ của băng tải. Băng tải
được sắp xếp nhiều tầng trong bể xút để tăng thời gian ngâm. Trong máy có bố
trí nhiều bể xút với các nồng độ và nhiệt độ khác nhau để tăng hiệu quả làm
sạch như sau:
Ø
Buồng 2: Ngâm chai trong xút nóng 780C,
với nồng độ xút 2%. Nhãn chai bong hết,
foi nhôm gặp xút tạo thành muối và H2. Trong quá trình này cần bổ
sung chất phụ gia (phụ gia máy rửa) có tên thương mại là: DS1299. Nó có tác
dụng tăng cường độ bóng cho chai và làm bên chai, phá bọt tạo thành và tiêu
diệt côn trùng.
Ø
Buồng 3: Bể nước nóng rửa xút. Nhiệt độ nước:
45÷500C. Mục đích loại bỏ xút còn lại trong chai, và làm sạch chai.
Ø
Buồng 4: Bể nước ấm, nhiệt độ nước khoảng 34÷400C.
Mục đích làm giảm nhiệt độ của chai và tiếp tục làm sạch chai.
Ø
Buồng 5: Bể nước thường để hạ nhiệt độ của chai
bằng nhiệt độ đầu vào của chai.
Phần
phía trên của máy rửa có bố trí hệ thống phun rửa. Ở đây, các chai được dốc
ngược để miệng chai hướng xuống phía dưới nhờ vậy chai được phun cả bên trong
và bên ngoài.
Để đảm bảo làm sạch bên trong chai, áp lực
của vòi phun phải mạnh. Đồng thời, các vòi phun đựợc bố trí tương ứng với sự
vận chuyển của băng tải chai. Các vòi phun có thể nghiêng để phun dịch vào chai
ở các góc phun khác nhau đảm bảo phun được toàn bộ trong chai.
Các chất
không tan, cặn bẩn được lắng xuống đáy thùng rửa và xút được dẫn qua hệ thống sàng
để tách nhãn và được gia nhiệt rồi đưa trở lại bể xút. Trong quá trình rửa cần
bổ sung xút vì xút bị hao hụt trong quá rửa. Yêu cầu chai sau khi rửa nồng độ
NaOH không vượt quá 0,3ml/chai và tổng thời gian rửa chai: 30 phút
Mục đích: Chai sau khi ra khỏi máy rửa
chai, theo băng tải lần lượt qua người ngồi soi chai, có vai trò kiểm tra chai.
Nếu còn bẩn thì đưa về lại máy rửa chai, nếu bị nứt, mẻ, sứt miệng… thì loại bỏ
luôn.
Yêu cầu:
-
Không làm tổn thất bia.
-
Toàn bộ các chai được rót đủ lượng bia.
-
Chất lượng bia không bị ảnh hưởng: Tránh sự
nhiễm tạp vi sinh vật, sự xâm nhập O2, tổn thất CO2.
Cấu tạo:
Hình 2.11. Máy
chiết bia
Nguyên tắc: Bia được chiết theo nguyên
tắc đẳng áp, diễn ra hai giai đoạn:
-
Tạo áp suất trong chai bằng với áp suất trong bể
chứa bia.
-
Dòng bia tự chảy nhờ chênh lệch chiều cao khi đã
có sự cân bằng áp suất.
Cách tiến hành:
Chai sau khi đã đảm bảo yêu cầu được băng
tải đưa đến máy chiết và đóng nắp.Chiết bia vào chai gồm các giai đoạn:
-
Giai đoạn hút chân không lần 1 và lần 2, để lạo bỏ
triệt để không khí bên trong chai
-
Giai đoạn đẩy CO2 vào chai, để tạo áp suất
cân bằng trong chai và trong bể chứa bia.
-
Sau đó bia sẽ tự động chảy vào do sự chênh lệch độ cao,
tránh được sự tạo bọt trong quá trình rót bia vào chai gây khó đầy chai.
-
Quá trình đầy chai: quá trình rót sẽ ngừng lại khi mức
bia trong chai chạm tới ống dẫn khí ra của đầu chiết. Khi đó van thông khí phía
trên bể chứa bia đóng lại.
-
Hạ chỏi vòi chiết.
-
Chai sau khi đã được nạp bia nhanh chóng đưa qua máy
đóng nắp. Trước khi đóng nắp có phun tia nước vào chai bia để loại O2
và bọt, hàm lượng nước phun vào rất ít. Nhiệt độ nước phun 83 ÷ 850C,
áp suất phun 4,2Bar.
Thông
số kỹ thuật:
-
Nhiệt độ bia nạp vào là: 120C.
-
Áp suất bơm chân không khoảng: -0,74bar.
-
Dung tích bia trong chai: 0,45lit.
-
Số vòi chiết của máy: 48 vòi.
-
Năng suất chiết: 15800b/h.
-
Không chiết bia đầy chai mà để lại một khoảng
không phía trên để chống lại áp suất tạo ra do CO2 trong chai giải
phóng ra, nhất là khi thanh trùng.
Sự cố máy chiết
chai:
-
Chai không chịu được áp lực dẫn đến nổ chai.
-
Đứt van vòi chiết dẫn đến chiết bia lưng.
Sau khi chiết, chai được siết nút càng
nhanh càng tốt, vì vậy máy đóng nắp chai được gắn cùng một khối với máy chiết
và được vận hành từ cùng một động cơ sao cho sự làm việc của hai máy tương ứng
nhau. Trước khi đóng nắp, có bố trí một tia nước nhỏ mạnh nhằm cân bằng độ bia,
đồng thời giải phóng một lượng CO2 vừa đủ để đẩy O2 ra
ngoài.
Nắp bia được sử dụng làm bằng sắt không gỉ
có mạ thiếc, phía trên có hình logo của công ty. Xung quanh nắp chai có răng,
phía trong nút chai có lớp đệm có nhiệm vụ làm kín miệng chai khi chiết để
không cho O2 xâm nhập vào chai hoặc CO2 thoát ra khỏi
chai.
Nắp chai được dẫn vào máy dập nắp bằng một
băng tải từ, qua cơ cấu đặc biệt để xoay nắp chai theo đúng hướng trong quá
trình dập nắp.
Khi nắp được đặt trên miệng chai, trong
quá trình dập nắp, răng cưa nắp sẽ bị nén xuống và bao lấy miệng chai. Lớp đệm
sẽ bị ép sát và nhờ đó làm kín miệng chai.
Đầu xiết nắp được hạ xuống sát miệng chai.
Nắp chai được giữ bởi nam châm của đầu xiết. Nhờ lực tác động của đầu xiết,
răng của nắp được ép sát miệng chai. Khi đó chai được nâng lên giải phóng chai
sang giai đoạn tiếp theo.
Sự cố máy đóng nắp: Nghẹt nắp dẫn đến
dừng máy
Khắc phục: Gạt nắp ra và cho máy chạy.
Mục đích:
Tiêu diệt vi sinh vật xâm nhập vào trong
quá trình chiết gây hư hỏng bia.
Phương pháp thanh trùng:
Các chai lần lượt đi qua các bể của thiết
bị thanh trùng lần lượt qua các chế độ nhiệt khác nhau trong khoảng thời gian
xác định nhờ hệ thống băng tải chuyển động liên tục.
Chai được nạp vào một đầu và được di
chuyển dưới các vùng có phun nước ở các nhiệt độ khác nhau. Nhiệt độ của các
khoang được bố trí sao cho bia dần dần được nâng tới nhiệt độ thanh trùng, sau
đó chai tiếp tục được làm nguội dần xuống nhiệt độ thường.
Nhiệt độ thanh trùng khoảng từ 61÷620C.
Cấu tạo của bể thanh trùng:
Gồm 10 bể, chia làm 3 khu vực:
Khu vực 1: từ bể 1÷3, nâng nhiệt để thanh trùng.
Khu vực 2: từ bể 4÷7, nhiệt độ thanh trùng.
Khu vực 3: từ bể 8÷10, hạ nhiệt độ xuống bằng nhiệt độ
vào của chai.
Nhiệt độ tương ứng của các bể:
Bể
1: 290C Bể
6: 61,70C
Bể
2: 38,50C Bể
7:610C
Bể
3: 49,30C Bể
8: 49,50C
Bể
4: 61,90C Bể
9: 39,60C
Bể
5: 61,70C Bể
10: 28,20C
Nguồn nhiệt cung cấp vào bể
là: 88, 40C
Sự cố và cách khắc phục:
Hơi
cấp vào không đều dẫn đến thanh trùng không đạt yêu cầu.
Khắc phục: có van tự động điều chỉnh cấp hơi vào.
Quá
tải dẫn đến đứt xích.
Khắc phục: công nhân vận hành ngừng máy sửa chữa.
Để
tiếp tục loại bỏ những chai không đúng quy cách như: không có bia trong chai,
nắp không đúng quy cách…
Nhãn
mác của sản phẩm:
Nhãn mác của sản phẩm có vai trò cung cấp
thông tin về sản phẩm, đồng thời nhãn mác có tác động rất lớn tới người tiêu
dung thông qua cách bố trí, nhãn mác…
Thông
thường trên chai bia thành phẩm gồm các nhãn mác sau:
-
Nhãn
ở thân chai: cung cấp thông tin chính về sản phẩm.
-
Nhãn
phía lưng chai (phía đối diện với nhãn ở thâm chai).
-
Nhãn
cổ chai: nhãn mác của sản phẩm có vai trò trang trí.
Két
bẩn sau khi đã bốc dở chai ra được đưa đến máy rửa két. Ở đây két được đưa qua
2 vùng: vùng 1 chứa NaOH (tận dụng từ máy rửa chai) có nhiệt độ 800C
được đun nóng nhờ hơi nước có tác dụng làm sạch cặn bản bám trên két và sát
trùng két sau đó đưa qua vùng 2 chứa
nước lạnh để làm sạch NaOH và loại bỏ hoàn toàn cặn bẩn, két sạch theo băng tải
đến bộ phận bốc dở bia thành phẩm đển bốc dở chai vào kết rồi đưa vào kho.
Sau khi
rửa sạch, két được băng tải vận chuyển đến máy bốc chai, đồng thời bia sau khi
dãn nhãn củng theo băng tải đi đến bộ phận bốc chai. Tại đây bia được bốc bia
vào két. Sau đó chuyển vào kho lưu
trữ.
Đầu tiên nước thải nhà máy sẽ được đưa qua
chứa ở bể ngâm, bể này là một bể chứa thông thường là khâu chuẩn bị cho quá
trình xử lý nước thải tiếp theo.
Lưới lọc:
công đoạn xử lý đầu tiên là qua lưới lọc, mục đích giữ lại các vật có
kích thước lớn gồm rác từ vỏ chai..lưới lọc để nghiêng. Để lưới lọc hoạt động
tốt nên thường xuyên kiểm tra có bị tắc lưới hay không, và làm vệ sinh lưới lọc
định kỳ.
Bể cân bằng: sau khi lọc nước đưa qua ở bể
cân bằng, luôn giữ nước thải ở mức 80% thể
tích bể, pH < 7. Người ta không bổ sung hóa chất vào bể này mà tự nó xảy ra
quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ thành các axit béo dễ bay hơi, khoảng 80%
lượng hợp chất hữu cơ được oxy hóa.
Bể khí metan: Chứa các vi sinh vật kị khí,
để phân giải các hợp chất hữu cơ thành CH4 và H2 …Độ pH
trong bể tối ưu cho vi sinh vật phát triển là từ: 7÷7,8. Nếu độ pH không đạt
yêu cầu thì sử dụng xút hoặc axit để điều chỉnh độ pH tối thích. Năng suất phân
giải tại bể khoảng 80÷90%
Bể chảy tràn: một phần nước thải sau khi
xử lý được hồi lưu về lại đầu cấp nước vào với 2 mục đích:
-
Tăng
áp suất vào của nước thải cấp vào (nước thải cấp vào + nước hồi lưu luôn đạt
lưu lượng 58m3/h)
-
Giảm chỉ số OD
Bể hiếu
khí: vi sinh vật hiếu khí tiếp tục phân giải các hợp chất hữu cơ còn lại. Cánh
khuấy hoạt động liên tục để cung cấp O2 cho vi sinh vật sử dụng.
Bể lắng
gạn: nước thải sau khi xử lý ở bể hiếu khí chuyển qua với mục đính lắng bùn,
bùn này sẽ hôi lưu về lại bể hiếu khí, còn nước trong được thải ra sông.
Để đảm bảo công
việc ổn định và sức khỏe người lao động trong nhà máy chúng ta cần phải thực
hiện theo các quy tắc sau:
-
Trước khi giao ca hay nhận ca tất cả các cán bộ,
công nhân trong phân xưởng phải thực hiện các quy định sau nhằm đảm bảo an toàn
lao động và nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất. Phải thường xuyên kiểm
tra hệ thống máy móc, thiết bị có hư hỏng hay không, kiểm tra dây tiếp đất đề
phòng rò rỉ điện giật.
-
Đề phòng hoá chất, bia nổ.
-
Làm đúng theo hướng dẫn, sơ đồ quy trình công
nghệ tuyệt đối không được tự ý làm khác. Khi cần thay đổi bất cứ điều gì phải
thông báo đề nghị trước với trưởng ca hoặc người có trách nhiệm.
-
Công nhân lao động tuỳ theo từng phân xưởng mà
phải biết và tuân thủ các quy định. Thường xuyên được tập huấn về nội quy an
toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng cháy, chữa cháy và được cấp bảo hộ lao
động.
-
Trong quá trình sản xuất, người lao động phải
theo dõi phát hiện kịp thời những hư hỏng, trục trặc, yếu tố nguy hiểm. Nhanh
chóng xử lý hay báo cáo với trưởng ca hoặc người có trách nhiệm biết.
-
Những vấn đề liên quan đến tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp nhà máy sẽ giải quyết theo đúng quy định hiện hành của luật
lao động.
-
Trong nhà máy các cán bộ cũng như toàn bộ công
nhân điều nghiêm túc chấp hành những qui định mà công ty đưa ra. Tuy nhiên,
trong quá trình sản xuất thì những sai sót có thể xảy ra là điều không thể
tránh khỏi mà tuỳ theo mức độ vi phạm mà nhà máy có hình thức xử lí khác nhau.
Qua quá trình
thực tập ở nhà máy bia Huế đã giúp chúng em cũng cố được kiến thức và tăng tính
liên hệ với thực tế. Trong thời gian thực tập chúng em đã đúc kết được nhiều
kinh nghiệm thực tế mà khi trên ghế nhà trường vẫn còn thắc mắc.
Qua tìm hiểu về
nhà máy chúng em đã làm rõ một số vấn đề về nhà máy bia huế như sau:
-
Quy trình công nghệ của nhà máy.
-
Cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của các trang
thiết bị liên quan đến dây chuyền sản xuất.
-
Sơ đồ bố trí mặt bằng và cách bố trí các trang
thiết bị của nhà máy.
-
Các kĩ thuật hiện đại liên quan đến công nghệ sản
xuất bia
Tuy thời gian ngắn nhưng nhờ sự chỉ bảo nhiệt tình
của các anh chị tại phòng kĩ thuật của nhà máy đã giúp chúng em hoàn thành tốt
quá trình thực thực tập này. Cuối cùng chúng em xin gởi lời cảm ơn, lời chúc
sức khỏe đến quý nhà máy.
1.
Tài liệu nội bộ của nhà máy bia Huế.
2.
Sách “ Khoa học – Công nghệ Malt và Bia” của “GS. TS.
Nguyễn Thị Hiền (chủ biên) và nhiều cộng tác khác” – Nhà xuất bản Khoa Học và
Kỹ Thuật.
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................